|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HSST
Ngày: 26 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mão
Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST - HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại Bắc Giang. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ G, đường L, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T1 (Đã chết) và bà Đặng Thị S; Vợ: Hà Diệu A; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: Chưa có; Nhân thân: + Tại Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã số 06/QĐ-UB ngày 20/06/2006 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn T bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 20/03/2007 của Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn T bị xử phạt 80.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Tại bản án số 40/2009/HSST ngày 24/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn T bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Ra trại ngày 30/8/2010); Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 25/06/2016 của Công an phường N, thành phố N, Nguyễn Văn T bị xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; Bị cáo bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Đặng Thị M, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Số nhà C, đường Đ, Phố A, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Số nhà E, đường Đ, phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1968
Nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 1994
Nơi cư trú: Số nhà E, đường N, phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Hà Diệu A, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ G, đường L, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Phạm Thị H, sinh năm 1996
Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Nơi tạm trú: Ngõ A, T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Phạm Trường S1, sinh năm 1998
Nơi cư trú: Số nhà I, Phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T là người không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ cấp, cho vay tín dụng hoặc hỗ trợ tài chính nhưng do muốn có tiền tiêu xài nên T đã cho những người quen biết có nhu cầu hoặc khó khăn về tài chính vay tiền mà không phải thế chấp, cầm cố tài sản với mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/01 năm) để thu lợi bất chính.
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/04/2022 đến ngày 22/12/2023, Nguyễn Văn T đã cho chị Đặng Thị M, chị Nguyễn Thị O, chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị Trà M1 vay tiền dưới hình thức “bốc ống” với lãi suất là 146%/năm của khoản
tiền vay, vượt gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm) và vay lãi tính theo ngày với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương 182,5%/01 năm của khoản tiền vay, vượt gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm). Hình thức “bốc ống” có nghĩa là khi người vay có nhu cầu vay tiền thì T sẽ lấy trước tiền lãi với lãi suất là 146%/năm và yêu cầu người vay phải trả dần tiền gốc theo ngày trong thời gian thoả thuận là 50 ngày. Ví dụ khi người vay 15.000.000 đồng thì T sẽ lấy trước tiền lãi trong 50 ngày vay là 3.000.000 đồng, người vay chỉ nhận được số tiền là 12.000.000 đồng, sau đó mỗi ngày người vay sẽ phải trả cho T số tiền gốc là 300.000 đồng trong thời gian là 50 ngày. Hằng ngày, người vay trả tiền mặt trực tiếp cho T hoặc chuyển khoản cho T qua số tài khoản 6150919899999 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2) mang tên T và số tài khoản 4839313966 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) mang tên Phạm Thị H hoặc có ngày T nhờ Phạm Trường S1 đến nhà người vay để thu tiền hộ T. Việc giao dịch cho vay lãi nặng của Nguyễn Văn T cụ thể như sau:
Giao dịch giữa Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị M:
- Lần 1: Ngày 20/04/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 2: Ngày 08/05/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 3: Ngày 28/05/2022, T cho chị M vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 10.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 10.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 1.000.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 4: Ngày 09/06/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 5: Ngày 04/07/2022, T cho chị M vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 10.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 10.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 1.000.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 6: Ngày 15/07/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là
5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 7: Ngày 10/08/2022, T cho chị M vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 10.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 10.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 1.000.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị M đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 8: Ngày 28/08/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc.
- Lần 9: Ngày 11/09/2022, T cho chị M vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 500.000 đồng tiền gốc.
- Lần 10: Ngày 17/09/2022, T cho chị M vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 10.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 10.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M phải trả 1.000.000 đồng tiền gốc.
Hiện nay chị M còn đang nợ T số tiền gốc của lần vay 8, 9 và 10 là 68.000.000 đồng.
Như vậy, Nguyễn Văn T đã cho chị Đặng Thị M vay tổng số tiền là 350.000.000 đồng với lãi suất là 146%/năm của khoản tiền vay, vượt gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm). T đã thu lợi 70.000.000 đồng, trong đó khoản tiền tương ứng với lãi suất hợp pháp 20%/ 01 năm là (50 x 350.000.000 x 0,2 : 365) = 9.589.041 đồng, thu lợi bất chính 60.410.959 đồng.
Giao dịch giữa Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị O:
- Lần 1: Ngày 04/7/2023, T cho chị O vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 3.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 3.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 300.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 2: Ngày 10/8/2023, T cho chị O vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 3: Ngày 02/9/2023, T cho chị O vay số tiền 12.500.000 đồng với lãi suất là 2.500.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.500.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 250.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 4: Ngày 17/09/2023, T cho chị O vay số tiền là 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là
5.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 500.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 5: Ngày 19/10/2023, T cho chị O vay số tiền là 12.500.000 đồng với lãi suất là 2.500.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.500.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 250.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 6: Ngày 06/11/2023, T cho chị O vay số tiền là 12.500.000 đồng với lãi suất là 2.500.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.500.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị O phải trả 250.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị O đã trả hết tiền gốc cho T.
Như vậy, Nguyễn Văn T đã cho chị Nguyễn Thị O vay tổng số tiền là 102.500.000 đồng với lãi suất là 146%/năm của khoản tiền vay, vượt gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm). T đã thu lợi 20.500.000 đồng, trong đó khoản tiền tương ứng với lãi suất hợp pháp 20%/ 01 năm là (50 x 102.500.000 x 0,2 : 365) = 2.808.219 đồng, thu lợi bất chính 17.691.781 đồng.
Giao dịch giữa Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y:
- Lần 1: Ngày 07/9/2023, T cho chị Y vay số tiền là 10.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị Y phải trả 200.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị Y đã trả hết tiền gốc cho T.
Lần 2: Ngày 16/09/2023, T cho chị Y vay số tiền là 25.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày và thoả thuận cứ vào các ngày mùng 6, 16 và 26 hàng tháng chị Y sẽ trả lãi 10 ngày cho T với số tiền là 1.250.000 đồng. Đến ngày 16/12/2023, chị Y đã trả hết tiền gốc và tổng số tiền lãi cho T 09 lần cho 90 ngày vay số tiền là 11.250.000 đồng.
Lần 3: Ngày 03/10/2023, T cho chị Y vay số tiền là 10.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị Y phải trả 200.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị Y đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 4: Ngày 21/10/2023, T cho chị Y vay số tiền là 10.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị Y phải trả 200.000 đồng tiền gốc. Lần vay này chị Y đã trả hết tiền gốc cho T.
- Lần 5: Ngày 30/11/2023, T cho chị Y vay số tiền là 10.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị Y phải trả 200.000 đồng tiền gốc. Lần
vay này chị Y đã trả được cho T số tiền gốc là 4.600.000 đồng, còn nợ 5.400.000 đồng tiền gốc.
- Lần 6: Ngày 06/12/2023, T cho chị Y vay số tiền là 10.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 2.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị Y phải trả 200.000 đồng tiền gốc. Lần vay này, đến ngày 22/12/2023 chị Y đã trả được cho T số tiền gốc là 3.400.000 đồng, còn nợ 6.600.000 đồng tiền gốc.
Như vậy, T đã cho chị Y vay 50.000.000 đồng với lãi suất là 146%/năm của khoản tiền vay, vượt gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm), thu lợi 10.000.000 đồng trong đó khoản tiền tương ứng với lãi suất hợp pháp 20%/ 01 năm là (50 x 50.000.000 x 0,2 : 365) = 1.369.863 đồng, thu lợi bất chính 8.630.137 đồng và T đã cho chị Y vay 25.000.000 đồng với lãi suất là 182,5%/01 năm của khoản tiền vay, vượt gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm), thu lợi 11.250.000 đồng trong đó khoản tiền tương ứng với lãi suất hợp pháp 20%/ 01 năm là (90 x 25.000.000 x 0,2 : 365) = 1.232.877 đồng, thu lợi bất chính 10.017.123 đồng.
Như vậy, Nguyễn Văn T đã cho chị Nguyễn Thị Y vay tổng số tiền 75.000.000 đồng, thu lợi bất chính 18.647.260 đồng.
Giao dịch giữa Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Trà M1:
Ngày 07/10/2023, Nguyễn Văn T đã cho chị Nguyễn Thị Trà M1 vay số tiền là 15.000.000 đồng với lãi suất là 3.000.000 đồng trong thời gian 50 ngày, T đã lấy lãi trước số tiền là 3.000.000 đồng và thoả thuận mỗi ngày chị M1 phải trả 300.000 đồng tiền gốc. Như vậy T đã cho chị M1 vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 146%/năm của khoản tiền vay, vượt gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định (20%/01 năm), thu lợi 3.000.000 đồng trong đó khoản tiền tương ứng với lãi suất hợp pháp 20%/ 01 năm là (50 x 15.000.000 x 0,2 : 365) = 410.959 đồng, thu lợi bất chính 2.589.041 đồng. Lần vay này chị M1 đã trả được cho T số tiền gốc là 13.500.000 đồng, còn nợ 1.500.000 đồng tiền gốc.
Như vậy Nguyễn Văn T đã cho 04 cá nhân vay tổng số tiền gốc là 542.500.000 đồng với mức lãi suất vượt quá từ 7,3 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính là tổng số tiền là 99.339.041 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 26/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong
giao dịch dân sự”. Áp dụng Khoản 1, K 3 Điều 201; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND phường P, thành phố N giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường P, thành phố N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Khấu trừ 5% - 7% thu nhập hàng tháng đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T, mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số 0919.903.917 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0911.188.040 thu Nguyễn Văn T.
Truy thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 473.000.000 đồng (số tiền gốc bị cáo T cho chị M, chị O, chị Y, chị M1 vay và đã được người vay trả lại); Truy thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 15.410.959 đồng là tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ việc phạm tội của bị cáo. Như vậy bị cáo phải nộp 488.410.959 đồng.
Truy thu của chị Đặng Thị M để nộp Ngân sách nhà nước số tiền 68.000.000 đồng là tiền gốc mà chị M vay và còn nợ lại chưa trả cho bị cáo.
Truy thu của chị chị Nguyễn Thị Trà M1 để nộp Ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng là tiền gốc mà chị M1 vay và còn nợ lại chưa trả cho bị cáo.
Về nghĩa vụ dân sự: Áp dụng Điều 463, Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả lại cho những người vay tổng số tiền 99.339.041 đồng là số tiền lãi bị cáo đã thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- - Trả lại cho chị Đặng Thị M số tiền 60.410.959 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị O số tiền 17.691.781 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 18.647.260 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Trà M1 số tiền 2.589.041 đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.
Tại phiên toà bị cáo T khai, sau khi kết thúc điều tra chị Nguyễn Thị Y đã trả cho bị cáo số tiền gốc của hai lần vay còn nợ lại là 12.000.000 đồng. Bị cáo nhận tiền từ chị Y không viết giấy tờ gì.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/04/2022 đến ngày 22/12/2023, tại địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn T đã cho chị Đặng Thị M, chị Nguyễn Thị O, chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị Trà M1 vay tổng số tiền là 542.500.000 đồng với mức lãi suất vượt quá từ 7,3 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự để thu lợi bất chính số tiền 99.339.041 đồng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động quản lý tài chính. Mức lãi suất bị cáo cho vay cao gấp 7,3 đến 9,125 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 201: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xét xử về tội cố ý gây thương tích và đã bị xử phạt hành chính nhưng đã được xoá án tích, xác định bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, mặc dù biết người khác đang gặp khó khăn về kinh tế nhưng muốn thu lời bất chính nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng đủ răn đe, phòng ngừa chung. Khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền gốc 473.000.000 đồng mà bị cáo cho những người liên quan vay là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước; Số tiền 15.410.959 đồng là số tiền lãi hợp pháp, là lãi suất được pháp luật thừa nhận, nhưng đây là tiền phát sinh từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Như vậy, số tiền bị cáo phải nộp tổng số tiền là: 488.410.959 đồng.
- Số tiền 68.000.000 đồng là tiền gốc mà chị M vay và còn nợ lại chưa trả cho bị cáo là phương tiện phạm tội nên cần thu của chị Đặng Thị M để nộp Ngân sách nhà nước.
- Số tiền 12.000.000 đồng là tiền gốc mà chị Nguyễn Thị Y vay và còn nợ lại chưa trả cho bị cáo. Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo xác định chị Y đã trả cho bị cáo sau khi kết thúc điều tra vụ án. Do vậy, cần thu của bị cáo số tiền trên (số tiền này đã được tính trong tổng số tiền gốc cần truy thu của bị cáo là 473.000.000 đồng nêu ở trên).
- Số tiền 1.500.000 đồng là tiền gốc mà chị Nguyễn Thị Trà M1 vay và còn nợ lại chưa trả cho bị cáo là phương tiện phạm tội nên cần thu của chị chị Nguyễn Thị Trà M1 để nộp Ngân sách nhà nước.
Về nghĩa vụ dân sự: Áp dụng Điều 463, Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:
Đối với tổng số tiền 99.339.041 đồng là số tiền bị cáo T thu lời bất chính từ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thông qua tất cả các lần vay. Số tiền này cần buộc bị cáo phải trả lại cho tất cả những người đi vay, cụ thể như sau:
- - Trả lại cho chị Đặng Thị M số tiền 60.410.959 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị O số tiền 17.691.781 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 18.647.260 đồng.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Trà M1 số tiền 2.589.041 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số 0919.903.917 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0911.188.040 thu của bị cáo Nguyễn Văn T là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento Biển kiểm soát 35A-287.85 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hà Diệu A; quá trình điều tra xác định đây là các tài sản hợp pháp của chị Hà Diệu A (vợ của Nguyễn Văn T) không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hà Diệu A là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 4G lắp 02 sim số 0886.398.060 và 0915.055.456; quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho T là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với 01 quyển vở, được đánh số thứ tự từ 01 đến 60 thu giữ của chị Đặng Thị M; quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị M dùng để ghi chép các khoản vay của T và các nội dung liên quan đến việc chi tiêu sinh hoạt của chị M không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với Phạm Trường S1 là người được T thuê để đưa đón con gái T đi học, thỉnh thoảng T có nhờ S1 đi thu tiền của những người vay. Tuy nhiên S1 không biết việc T cho vay lãi suất cụ thể như thế nào. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Phạm Trường S1.
Đối với chị Hà Diệu A đã sử dụng số tài khoản 0221000048075 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V) chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng của chị O, tuy nhiên đây là do T nhờ chị Diệu A chuyển tiền, chị Diệu A không biết việc T nhờ chuyển tiền để cho vay lãi nặng. Đối với số tài khoản 1550167896789 của
Ngân hàng M2 mà T sử dụng để chuyển tiền cho chị O vay là tài khoản của vợ chồng T cùng sử dụng, chị Diệu A không biết T sử dụng để thực hiện việc phạm tội nên không vi phạm.
Đối với số tài khoản 4839313966 của Ngân hàng B mang tên Phạm Thị H. Quá trình điều tra xác định tài khoản trên là của chị Phạm Thị H sinh năm 1996 trú tại thôn D, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Chị H đã lập và cho T mượn tài khoản trên để sử dụng, tuy nhiên chị H không biết T mượn tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội nên không vi phạm.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 05% thu nhập hàng tháng sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp:
- Thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo T tổng số tiền là: 488.410.959₫ (Bốn trăm tám mươi tám triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm năm mươi chín đồng).
- Thu sung ngân sách Nhà nước đối với chị Đặng Thị M số tiền 68.000.000₫ (Sáu mươi tám triệu đồng).
- Thu sung ngân sách Nhà nước đối với chị Nguyễn Thị Trà M1 số tiền 1.500.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho chị Đặng Thị M số tiền 60.410.959₫ (Sáu mươi triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm năm mươi chín đồng); Chị Nguyễn Thị O số tiền 17.691.781₫ (Mười bẩy triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn bẩy trăm tám mươi mốt đồng); Chị Nguyễn Thị Y số tiền 18.647.260₫ (Mười tám triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn hai trăm sáu mươi đồng); Chị Nguyễn Thị Trà M1 số tiền 2.589.041₫ (Hai triệu năm trăm tám mươi chín nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số 0919.903.917; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0911.188.040 thu giữ của bị cáo T.
Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Tuyết |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
