|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 7 - 2024 “V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Giang;
Bà Võ Thị Hồng Long.
Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham
gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông
tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý
số: 66/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết
định hoãn phiên toà số: 467/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lương Thị B. sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt; (Có đơn xin
xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Vi Văn V, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý
do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 01/4/2024 và quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị B trình bày:
- - Về tình cảm: Chị Lương Thị B và bị đơn anh Vi Văn V kết hôn với nhau
- vào ngày 20 tháng 6 năm 2004 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc kết
- hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định
- về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến
- năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân
là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh V ngoại tình không quan tâm
chăm sóc vợ con, chị đã nhiều lần cho anh V cơ hội để sửa đổi nhưng anh V
không thay đổi được bản thân. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia
đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần
hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà
từ năm 2023 cho đến nay, vợ chồng chị không còn sống chung với nhau. Chị B
thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được
ly hôn với bị đơn anh Vi Văn V.
- - Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung
- tên là Vi Ngọc N sinh ngày 11/6/2003 và con Vi Ngọc P sinh ngày 01/7/2001
- hiện nay các con đã đủ 18 tuổi trưởng thành và có cuộc sống riêng.
- - Về tài sản chung: Chị Lương Thị B và anh Vi Văn V không có tài sản
- chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị B và anh V không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào
- cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Vi Văn V vắng mặt
mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành
các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu
ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
- xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã
- tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
- chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy
- định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của
- Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia
- đình năm 2014: Xử cho chị Lương Thị B được ly hôn với anh Vi Văn V; Về con
- chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh V chị B có 02 người con chung tên
- là Vi Ngọc N sinh ngày 11/6/2003 và con Vi Ngọc P sinh ngày 01/7/2001 hiện
- nay các con đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét. Về
- tài sản và nợ chung: Chị Lương Thị B và anh Vi Văn V không có tài sản chung
- và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án
- phí: Chị Lương Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An
nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định
tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo
thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt
các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án,
gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa
vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại
phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến
hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các
tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải
quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét thấy chị Lương Thị B và anh Vi Văn V đăng ký kết
hôn vào ngày 20 tháng 6 năm 2004 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An.
Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về
điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014. Như vậy hôn nhân giữa chị B và anh V là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2022 thì phát sinh
mâu thuẫn. Theo chị B, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không
hợp nhau, anh V ngoại tình không quan tâm chăm sóc vợ con, chị đã nhiều lần
cho anh V cơ hội để sửa đổi nhưng anh V không thay đổi được bản thân. Tại
phiên tòa anh V vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa
phương cho thấy giữa vợ chồng chị B và anh V thường xuyên xẩy ra mâu thuân
không thể hàn gắn được, anh V ngoại tình không lo chăm sóc vợ con. Gia đình
và chính quyền địa phương đã hòa giải cho vợ chồng anh chị nhiều lần nhưng
không thành, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với
nhau nữa, chị B đã về sống cùng bố mẹ đẻ còn anh V thường xuyên đi đâu làm
gì ở đâu không thông báo cho chị B và chính quyền địa phương biết. Như vậy,
chị B và anh V đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung
với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa chị B và anh V mâu
thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình
2014, xử cho chị B được ly hôn với anh V.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị B và anh V có 02
người con chung tên là Vi Ngọc N sinh ngày 11/6/2003 và con Vi Ngọc P sinh
ngày 01/7/2001 hiện nay các con đã đủ 18 tuổi trưởng thành và có đủ năng lực
hành vi dân sự, không yêu cầu Tòa án xem xét.
[4] Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự đã không có tài
sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn
cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem
xét.
[5] Về án phí: Chị Lương Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
[6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết
toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản
4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và
84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị B.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lương Thị B được ly hôn với
- anh Vi Văn V.
- Trong quá trình chung sống vợ chồng chị B và anh V có 02 người con
- chung tên là Vi Ngọc N sinh ngày 11/6/2003 và Vi Ngọc P sinh ngày 01/7/2001
- hiện nay các con đã đủ 18 tuổi trưởng thành và có đủ năng lực hành vi dân sự,
- không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Về án phí: Chị Lương Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án
- phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
- (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000625 ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; chị Lương Thị B
- đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo đến Toà
- án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản
- án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Văn Hải |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Lương Thị Bay - Bị đơn Vi Văn Vinh
