Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/DS-ST

Ngày 24-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Tú Nhi;
  2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 622/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1. Địa chỉ: số A, đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị Diễm T, sinh năm 1983 (Văn bản ủy quyền số 180/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT1 ngày 15/02/2023), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972.
  2. Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ thường trú: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ liên hệ: Tổ E, Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà Đ, ông C vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 10 năm 2023, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP C1 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C vay vốn tại Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh K theo các Hợp đồng tín dụng như sau:

- Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020: số tiền cam kết cho vay: 1.000.000.000 đồng, mục đích vay vốn: thanh toán chi phí nhận quyền sử dụng đất ở tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để phục vụ mục đích tiêu dùng; thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên; số tiền đã giải ngân: 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 15/9/2020. Thực hiện Hợp đồng thì bà Đ và ông C đã trả 137.280.000 đồng tiền gốc và 285.367.128 đồng tiền lãi.

- Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021: số tiền cam kết cho vay: 400.000.000 đồng, mục đích vay vốn: bù đắp chi phí sửa chữa nhà ở tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để phục vụ tiêu dùng, thời hạn cho vay: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên, số tiền đã giải ngân: 400.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 29/10/2021. Thực hiện Hợp đồng thì bà Đ và ông C đã trả 66.000.000 đồng tiền gốc và 60.721.977 đồng tiền lãi.

Kể từ ngày 20/6/2023, bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay nêu trên. Tổng số tiền còn nợ Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh K đến ngày 24/4/2024 là 1.347.512.891 đồng, trong đó: nợ gốc là: 1.196.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 148.696.350 đồng; lãi phạt là: 2.096.541 đồng, theo các Hợp đồng tín dụng như sau:

- Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 971.533.994 đồng, trong đó: nợ gốc là : 862.720.000 đồng; lãi trong hạn là : 107.585.274 đồng; lãi phạt là: 1.228.720 đồng.

- Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 375.978.897 đồng, trong đó: nợ gốc là: 334.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 41.111.076 đồng; lãi phạt là: 867.821 đồng.

Từ khi khoản vay của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C chuyển quá hạn, Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh K đã nhiều lần gửi thông báo, mời làm việc để yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C trả toàn bộ khoản nợ, phối hợp với ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm nhưng bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C không thực hiện trả nợ, không hợp tác với ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức đã thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp.

Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bà Đ và ông C phát sinh theo các Hợp đồng cho vay nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1442, tờ bản đồ số 15, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 026888, số vào sổ cấp GCN: CS07666 ngày 15/09/2018 cho ông Lê Văn T1, cập nhật biến động cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 30/9/2020 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20.090/2020/HĐBĐ/NHCT901 ngày 06/10/2020 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số 092/2021/HĐBĐ/NHCT901.VBSĐ ngày 29/10/2021 ký giữa Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh K - Phòng G với bà Đ và ông C. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C2 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/10/2020 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Nay, Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C thanh toán cho Ngân hàng TMCP C1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 và Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/4/2024 là: 1.347.512.891 đồng, trong đó: nợ gốc là: 1.196.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 148.696.350 đồng; lãi phạt là: 2.096.541 đồng.

Đồng thời, bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh theo các Hợp đồng cho vay nêu trên kể từ sau ngày 24/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C1.

  1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP C1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1442, tờ bản đồ số 15, tại phường T, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 026888, số vào sổ cấp GCN: CS07666 ngày 15/09/2018 cho ông Lê Văn T1, cập nhật biến động cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 30/9/2020 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20.090/2020/HĐBĐ/NHCT901 ngày 06/10/2020 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số 092/2021/HĐBĐ/NHCT901.VBSĐ ngày 29/10/2021 để thu hồi khoản nợ.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C nhưng bà Đ và ông C vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn xét thấy: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C vay vốn tại Ngân hàng C1 - Chi nhánh K theo các Hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020: số tiền cam kết cho vay: 1.000.000.000 đồng, mục đích vay vốn: thanh toán chi phí nhận Quyền sử dụng đất ở tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để phục vụ mục đích tiêu dùng; thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên; số tiền đã giải ngân: 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 15/9/2020. Thực hiện Hợp đồng thì bà Đ và ông C đã trả 137.280.000 đồng tiền gốc và 285.367.128 đồng tiền lãi.
  • Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021: số tiền cam kết cho vay: 400.000.000 đồng, mục đích vay vốn: bù đắp chi phí sửa chữa nhà ở tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để phục vụ tiêu dùng, thời hạn cho vay: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên, số tiền đã giải ngân: 400.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 29/10/2021. Thực hiện Hợp đồng thì bà Đ và ông C đã trả 66.000.000 đồng tiền gốc và 60.721.977 đồng tiền lãi.

[2] Xét thấy, Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 và Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C1 với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP C1 đã giải ngân cho bà Đ và ông C theo như các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, kể từ ngày 20/6/2023, bà Đ và ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 1.347.512.891 đồng, trong đó: nợ gốc là: 1.196.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 148.696.350 đồng; lãi phạt là: 2.096.541 đồng, theo các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 971.533.994 đồng, trong đó: nợ gốc là : 862.720.000 đồng; lãi trong hạn là : 107.585.274 đồng; lãi phạt là: 1.228.720 đồng.
  • Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 375.978.897 đồng, trong đó: nợ gốc là: 334.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 41.111.076 đồng; lãi phạt là: 867.821 đồng.

Như vậy, quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đ và ông C đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán và chuyển thành các khoản nợ quá hạn từ ngày 20/6/2023. Xét thấy, bị đơn bà Đ và ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 và Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại theo các Hợp đồng cho vay tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 1.347.512.891 đồng, trong đó: nợ gốc là: 1.196.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 148.696.350 đồng; lãi phạt là: 2.096.541 đồng và tiền lãi quá hạn tiếp tục tính từ ngày 25/4/2024 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:

- Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 1442, tờ bản đồ số 15, tại phường T, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 026888, số vào sổ cấp GCN: CS07666 ngày 15/9/2018 cho ông Lê Văn T1, cập nhật biến động cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 30/9/2020.

Xét thấy, tài sản bảo đảm được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp giữa Ngân hàng TMCP C1 với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C là hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật và tuân thủ quy định về hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến việc Ngân hàng chấm dứt cho vay, thu nợ trước hạn và Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận.

- Đối với các tài sản gắn liền với đất: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là thửa đất số: 1442, tờ bản đồ số 15, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và ghi nhận các tài sản gắn liền với diện tích đất đã thế chấp cụ thể như sau: 01 nhà ở riêng lẻ có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước phía dưới có ốp gạch men lửng; khung cột sàn bê tông cốt thép, cửa kính khung sắt, cửa kính khung nhôm, trần thạch cao, 01 trần mái tôn phía trước. Theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20.090/2020/HĐBĐ/NHCT901 ngày 06/10/2020 quy định “mọi tài sản gắn liền với thửa đất trước và trong quá trình xử lý tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp và bên nhận thế chấp được quyền xử lý cho dù tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký kết hợp đồng này, cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tư, cải tạo, xây dựng thêm hay cho phép bên thứ ba đầu tư, cải tạo, xây thêm”. Vì vậy, để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C thì cần phải xử các tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP C1.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
  • Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 326 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C1 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1.1 Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 1.347.512.891 đồng, trong đó: nợ gốc là: 1.196.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 148.696.350 đồng; lãi phạt là: 2.096.541 đồng, theo các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 971.533.994 đồng, trong đó: nợ gốc là : 862.720.000 đồng; lãi trong hạn là: 107.585.274 đồng; lãi phạt là: 1.228.720 đồng.
  • Nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là: 375.978.897 đồng, trong đó: nợ gốc là: 334.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 41.111.076 đồng; lãi phạt là: 867.821 đồng.

Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 25/4/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số 20.093/2020-HĐCV/NHCT901 ngày 15/9/2020 và Hợp đồng cho vay số 135/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 29/10/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C1 với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C.

1.2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP C1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 1442, tờ bản đồ số 15, tại phường T, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 026888, số vào sổ cấp GCN: CS07666 ngày 15/9/2018 cho ông Lê Văn T1, cập nhật biến động cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 30/9/2020.
  • Các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà ở riêng lẻ có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước phía dưới có ốp gạch men lửng; khung cột sàn bê tông cốt thép, cửa kính khung sắt, cửa kính khung nhôm, trần thạch cao, 01 trần mái tôn phía trước.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Đình C phải liên đới chịu số tiền 52.425.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 15.364.726 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0001311 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP C1 tự nguyện chịu số tiền 10.000.000 đồng, được khấu trừ toàn bộ số tiền 10.000.000 đồng tạm ứng đã nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 118/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng Công thương với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger