TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:118/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2024 V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Bà Phạm Thị Sơn
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 96/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Lê Huy N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Đăng ký HKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T và anh Lê Huy T1 kết hôn trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X nay là xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/10/2019. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống hạnh phúc đến khi có con chung, do kinh tế gia đình khó khăn nên vào năm 2020 anh Lê Huy T1 sang Đài Loan làm ăn theo diện xuất khẩu lao động. Vợ chồng xa nhau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh Lê Huy T1 không còn quan tâm đến vợ con, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 đã hoàn toàn tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 16/4/2020. Vợ chồng ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh T1 đóng góp nuôi con chung.
- Về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết
- Về công nợ: Chị T không yêu cầu giải quyết
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2024 bà Lương Thị T2 (là mẹ đẻ anh Lê Huy T1) trình bày:
- Về hôn nhân: Bà T2 thống như đơn khởi kiện của chị T về thời gian và điều kiện kết hôn của anh T1 và chị T. Cụ thể: Anh T1 và chị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã X cũ nay là xã H. Sau khi kết hôn thì anh T1 và chị T ở tại gia đình bà T2 tại xóm C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vào năm 2020 thì anh T1 đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Anh T1 và chị T có mâu thuẫn gì hay không thì bà không biết. Bà cũng không biết cụ thể địa chỉ sinh sống và nơi làm việc của anh T1. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh T1 thì bà bà không biết. Qua trao đổi nắm bắt thì anh T1 không muốn ly hôn với chị T.
- Về con: Anh T1 và chị T có 01 con chung là cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 16/4/2020.
- Về tài sản và công nợ của anh T1 và chị T như thế nào thì bà T2 không biết.
Các văn bản Tòa án giao cho anh T1 thì bà T3 xin nhận và sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh T1 biết nội dung nhưng bà không ký bất cứ văn bản gì hết.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội vè án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình.
- - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vi Thị T, cho chị T được ly hôn anh Lê Huy T1.
- - Về con chung: Giao cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 16/4/2020 đến khi đủ 18 tuổi. Anh T1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị T.
- - Về tài sản và công nợ chung: Chị Vi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- - Về án phí: Chị Vi Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000₫.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Vi Thị T và anh Lê Huy T1 là: Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh là xóm C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay là Đài Loan. Tại công văn số: 12961/QLXNC-P3 ngày 20/6/2024 của Cục Q Bộ C cung cấp cho Tòa án: Anh Lê Huy T1, sinh ngày 11/3/1986 đã xuất cảnh ngày 08/02/2021 qua cửa khẩu N1, hiện nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2024 đối với bà Lương Thị T2 (mẹ đẻ anh Lê Huy T1) xác nhận anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2020 đến nay chưa về, vì vậy có căn cứ xác định hiện nay anh T1 đang ở Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án triệu tập anh T1 nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các giấy tờ, văn bản của Tòa án cho người thân của anh T1 là bà Lương Thị T2 mẹ đẻ của anh T1 Ngày 05/8/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất anh T1 vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp và tiến hành niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa xét xử vụ án anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy anh Lê Huy T1 cố tình lần tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án lần thứ hai vắng mặt bị đơn anh Lê Huy T1. Đối với chị T, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị T đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị T.
[2]. Về nội dung:
* Về hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Lê Huy T1 kết hôn trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X nay là xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/10/2019. Như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy:
Sau khi kết hôn chị Vi Thị T và anh Lê Huy T1 sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Anh T1 đã đi Đài Loan theo diện lao động xuất khẩu từ ngày 08/02/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh T1 có biết việc chị T làm đơn xin ly hôn nhưng cũng không thiết tha níu kéo mà có thái độ bỏ mặc. Như vậy chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Vi Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
* Về con: Chị Vi Thị T và anh Lê Huy T1 có 01 con chung là cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 16/4/2020. Vợ chồng ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh T1 đóng góp nuôi con chung. Xét nguyện vọng nuôi con của
chị T là chính đáng, bởi lẽ từ khi anh T1 đi lao động xuất khẩu thì cháu D vẫn ở cùng chị T, được chị T chăm sóc chu đáo. Từ những phân tích trên, xét thấy cần giao cháu Lê Ngọc D là con chung của chị T và anh T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị T không yêu cầu anh T1 đóng góp nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên cần được chấp nhận.
* Về tài sản và công nợ: Chị Vi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Vi Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Điều 37; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị T đối với bị đơn anh Lê Huy T1.
Xử: Vắng mặt anh Lê Huy T1 và chị Vi Thị T.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lê Huy T1.
- Về con: Giao cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 16/4/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T1 không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị T. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Vi Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000398 ngày 01/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh Lê Huy T1 được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung.
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
