|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH B |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HSST
Ngày: 23 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hoan
2. Bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2024/HSST- QĐ ngày 02/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn H; Không có tên gọi khác;
Sinh ngày: 10/10/1973 tại tỉnh B;
Nơi cư trú: B 2, xã M, thành phố Đ, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông: Lù Văn L và bà: Lù Thị A; Vợ: Quàng Thị T; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1995; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử sơ thẩm (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 09/01/2024 bị cáo Lù Văn H đi bộ từ nhà đến bản Lọng Luông 2, xã M, thành phố Đ để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến cuối bản, H gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ hỏi mua được một gói bên ngoài gói bằng nilon màu đen, bên trong có 06 viên nén màu hồng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua xong, bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái và đi bộ về nhà. Khi bị cáo đi được khoảng 100m thì bị tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lọng Luông 2, xã M phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo khai đó là ma túy hồng phiến, loại Methamphetamine, mục đích mua về để bản thân sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 35 phút, ngày 09/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng gửi giám định thu giữ của bị cáo Lù Văn H là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6 gam.
Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-TPĐBP ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lù Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lù Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 19 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,47 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu đen; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lù Văn H không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 09 giờ ngày 09/01/2024 tại bản Lọng Luông 2, xã M, thành phố Đ, tỉnh B, Lù Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,6 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 35 phút, ngày 09/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B.
Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi tàng trữ trái phép 0,6 gam chất ma túy, với mục đích để sử dụng của bị cáo Lù Văn H là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Đối với người phụ nữ dân tộc Mông, không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Vật chứng: Đối với 0,47 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu đen là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS.
- Tuyên bố bị cáo Lù Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Lù Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/01/2024).
- Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,47 gam Methamphetamine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu đen (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thúy Thành |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
