|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HSST
Ngày: 22/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Cẩm Hà
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thụy
Ông Phùng Ngọc Toàn
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 07 năm 2024, Toà án nhân dân quận Ba Đình - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 119/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Quốc H;
Sinh năm: 1986; ĐKNKTT và nơi ở: 1A ngách I Đ, phường N, B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Trần Quốc B; Họ và tên mẹ: Thẩm Thị H1 (đã chết); Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án 159/HSST ngày 29/6/2015, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt Trần Quốc H 04 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy; Bản án 500/HSPT ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Trần Quốc H 04 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2018. Biên bản xác minh thi hành án ngày 20/5/2024 xác định Trần Quốc H chưa nộp 200.000 đồng án phí HSST; 200.000 đồng án phí HSPT. Xác định bị cáo Trần Quốc H chưa được xóa án tích đối với bản án này; Nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án 298/HSST ngày 22/4/2004, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 năm tù tội giết người, ngày phạm tội 27/4/2003. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2014. Biên bản xác minh thi hành án ngày 07/5/2024 xác định Trần Quốc H đã nộp 50.000 đồng án phí HSST; 379.925 đồng án phí DSST, bồi thường cho bị hại 7.585.000 đồng; Bị cáo bị bắt ngày 21/03/2024 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 00 ngày 21/03/2024, Trần Quốc H đi từ nhà đến khu vực chợ N mục đích tìm mua ma túy H2 về để sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, H đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroine với giá 500.000 đồng. Mua xong Học mang số ma túy vừa mua được về nhà tại số A ngách I Đ, phường N, B, Hà Nội. Tại nhà H đã sử dụng 01 phần ma túy mua được, phần còn lại H cất vào túi quần rồi đi ngủ. Đến khoảng 11 giờ 30 ngày 21/03/2024, khi H đang ở nhà thì có một người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 0363.038.xxx gọi đến số điện thoại của H là 0344.896.xxx hỏi mua 02 gói Heroin với giá 200.000 đồng/01gói. Người này hẹn Học giao dịch tại H P, B, Hà Nội. H đồng ý và lấy số ma túy đang cất giấu tại túi quần mua từ lúc sáng và cầm tại tay trái rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng đỏ có BKS: 29N1-787.23 đến điểm hẹn để giao dịch mua bán ma túy với người đàn ông trên. Đến nơi, H đang định lấy điện thoại ra gọi cho người mua ma túy thì bị Tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an quận B kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại cơ quan điều tra, Trần Quốc H đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Tang vật của vụ án:
Thu giữ của Trần Quốc H:
- - 01 gói giấy màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng.
- - 01(một) ĐTDĐ Iphone 8 plus màu đỏ thu giữ trong túi quần trước bên phải đang mặc của Học có số IMEI 359401081333301.
- - 01(một) xe máy Airblade màu đỏ BKS: 29N1-787.23 SK: JF94E0025908, SM: RLHJFG333LZ005827.
- - Tiền ngân hàng N1: 320.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 2277 ngày 30/3/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: “chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu hồng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,279 gam”.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đỏ BKS: 29N1-787.23 SK: JF94E0025908, SM: RLHJFG333LZ005827, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh được biết chủ sở hữu hợp pháp là anh Đinh Công T, sinh năm 1971; HKTT: Thôn G, K, G, Hà Nội. Anh T là chú của Trần Quốc H, anh T cho H mượn xe để đi có việc và không biết đến hành vi vi phạm pháp luật của Trần Quốc H. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc xe trên cho anh Đinh Công T.
Toàn bộ số vật chứng còn lại nêu trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số điện thoại 0363.038.xxx - đây là số điện thoại người mua ma tuý của H. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là anh Trương Quốc Q (sinh năm 1990, HKTT: T, T, Hà Tĩnh). Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với anh Trương Quốc Q được biết anh Q không đăng ký và không sử dụng số thuê bao trên cũng như không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Quốc H.
Đối với người bán ma túy cho H và người mua ma túy của H, Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra xác minh, nhưng không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Tại cáo trạng số 124/QĐ-VKS ngày 08/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm S tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc H mức án 3 năm đến 4 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,279 gam ma túy loại heroin, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và của Trần Quốc H; Tịch thu 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu đỏ đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 320.000 đồng.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 21/3/2024 tại ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, Trần Quốc H có hành vi bán trái phép 0,279 gam chất ma túy loại Heroin. Khi H đang liên hệ với người mua ma túy thì bị Tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an quận B phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Xét, hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự năm là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, đã mua bán ma túy để sử dụng do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích lần này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm cho nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự .
- Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,279 gam ma túy loại heroin, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và của Trần Quốc H;
- - 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu đỏ đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu của bị cáo số tiền 320.000 đồng tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo dược quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt:
Bị cáo Trần Quốc H 4 (bốn) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn từ tính từ ngày 21/3/2024.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa 0,279 gam ma túy loại heroin, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và của Trần Quốc H; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 174 ngày 18/7/2024;
Tịch thu 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu đỏ đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 174 ngày 18/7/2024;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 320.000 đồng; Theo giấy nộp tiền vào tài khoản của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận B, thành phố Hà Nội vào tài khoản của chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 18/7/2024.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Cẩm H3 |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
