Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 12 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Chí Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Lệ

Bà Đoàn Thị Liễu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ưng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2025/TLST-HS ngày 26/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2025/QĐXXST-HS ngày 01/12/2025 đối với bị cáo:

Trần Văn Thùy D, sinh ngày 01/01/1972 tại phường Ô, thành phố C; Nơi đăng ký thường trú: Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Số A đường Đ, phường Ô, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Đặng Thị S (đã chết).

- Tiền án: 02

  • + Ngày 17/3/2003 Trần Văn Thùy D bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 08 năm tù về tội Cướp giật tài sản, theo Bản án số 42/HSST, ngày 17/3/2003, đến ngày 13/8/2012 chấp hành xong hình phạt, chưa thi hành án phí hình sự, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 24/3/2003 Trần Văn Thùy D bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ xử phạt 05 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, theo Bản án số 59/HSST, ngày 24/3/2003. Ngày 25/7/2003, Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, theo Bản án số 1256/HSPT, ngày 25/7/2003, đến ngày 13/8/2012 chấp hành xong hình phạt, chưa thi hành án phí hình sự, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Ngày 20/12/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 89/HSPT, ngày 20/12/2001, ngày 31/8/2002 chấp hành xong, đương nhiên xóa án tích.
  • + Ngày 19/8/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo Bản án số 208/2014/HSST, ngày 19/8/2014. Ngày 29/10/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, theo Bản án số 411/2014/HSPT, ngày 29/10/2014, đến ngày 20/12/2017 chấp hành xong hình phạt, đương nhiên xóa án tích.
  • + Ngày 24/3/2019, bị Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi Trộm cắp tài sản, đã thi hành xong, đã xóa tiền sự.
  • + Ngoài ra vào năm 1997 và năm 1999 có bị Công an huyện Ô, tỉnh Cần Thơ lập danh chỉ bản về hành vi Trộm cắp tài sản, tuy nhiên qua tra cứu không có thông tin xử lý hình sự đối với vụ việc.

Ngày 21/7/2025 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 02/9/2025 bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 2422/LC-VPCQCSĐT, ngày 02/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, hiện bị can đang tại ngoại tại khu vực H, phường Ô, thành phố Cần Thơ.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

  • - Ông Mai Văn Ú, sinh năm 1959 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số D, tổ A, ấp P, phường V, tỉnh An Giang.
  • - Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1975 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A, tổ D, ấp P, phường V, tỉnh An Giang.
  • - Ông Phạm Văn Ú1, sinh năm 1974 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số C đường N, khu phố D, phường V, tỉnh An Giang.
  • - Ông Doãn Văn Đ, sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số B, tổ H, ấp P, phường V, tỉnh An Giang.
  • - Ông Trương T1, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số H đường C, phường V, tỉnh An Giang.
  • - Bà Trần Thị N, sinh năm 1957 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số E ấp P, xã T, tỉnh An Giang.
  • - Ông Võ Thành N1, sinh năm 1981 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ B ấp P, xã T, tỉnh An Giang.

Người chứng kiến: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số F, khu phố C, phường V, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 19/7/2025, Trần Văn Thùy D đi xe khách từ thành phố Cần Thơ đến gần cầu R, phường R, tỉnh An Giang để tìm việc làm, nhưng không ai nhận, lý do D không có giấy tờ tùy thân, sau đó D đến quán cà phê ở gần Công viên chợ R để xin tiền thì gặp người nam thanh niên khoảng 40 tuổi đến 45 tuổi (không rõ tên, địa chỉ) người này giới thiệu tên P, đồng thời nói với D muốn có tiền xài thì tối đi trộm chó, sáng P cho tiền xài, nên D đồng ý, P kêu D ngồi uống cà phê tối P lại rước. Nói xong P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 bỏ đi, đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/7/2025 P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 đến, mang theo 01 (một) cái bao và cầm trên tay 01 (một) cây súng điện bằng gỗ để bắn chó, P đưa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 cho D điều khiển chở P phía sau chỉ đường, D chở P đi qua nhiều tuyến đường, khi thấy có chó thì P kêu D ngừng xe lại để P bước xuống xe đi đến dùng súng điện bắn chó, khi bắn được chó thì P cầm chó lại cho D lấy cái bao vải màu xanh đậm mà P đã chuẩn bị sẵn để bỏ chó vào, D chở P đi trên nhiều tuyến đường trên địa bàn phường V và xã T tỉnh An Giang bắn được 07 (bảy) con chó, cụ thể bắt trộm của ông Mai Văn Ú, địa chỉ số D, tổ A, ấp P, phường V, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu vàng, loại chó cỏ, trọng lượng 13 (mười ba) ki – lô – gam; bắt trộm của ông Nguyễn Ngọc T, địa chỉ số A, tổ D, khu phố P, phường V, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu vàng, loại chó cỏ, có đeo vòng cổ, trọng lượng 14 (mười bốn) ki – lô – gam; bắt trộm của ông Phạm Văn Ú1, địa chỉ số C đường N, khu phố D, phường V, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông vàng, loại chó cỏ, trọng lượng 13 (mười ba) ki – lô – gam; bắt trộm của ông Doãn Văn Đ, địa chỉ số D, tổ A, ấp P, phường V, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu trắng đen, loại chó cỏ, trọng lượng 13 (mười ba) ki – lô – gam; bắt trộm của ông Trương T1, địa chỉ số H đường C tháng D, khu phố S, phường V, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu vàng, loại chó cỏ, trọng lượng 15 (mười lăm) ki – lô – gam; bắt trộm của bà Trần Thị N, địa chỉ số E, ấp P, xã T, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu vàng, loại chó cỏ, trọng lượng 11 (mười một) ki – lô – gam; bắt trộm của ông Võ Thành N1, địa chỉ tổ B, ấp P, xã T, tỉnh An Giang 01 (một) con chó lông màu vàng, loại chó cỏ, trọng lượng 15 (mười lăm) ki – lô – gam. Khi D và P đang di chuyển trên đường 30 tháng 4, phường V, tỉnh An Giang, thì thấy lực lượng Công an phường V, tỉnh An Giang đang đi tuần tra nên D điều khiển xe bỏ chạy, lúc này lực lượng Công an đuổi theo đến đường M, khu phố B, phường V, tỉnh An Giang thì đuổi kịp nên D điều khiển xe đụng vào bụi chuối, còn P nhảy xuống xe ôm bình điện bỏ chạy, lực lượng Công an phường V bắt quả tang Trần Văn Thùy D cùng vật chứng là 07 (bảy) con chó các loại.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) cái bao màu xanh đậm dài 133 cm, rộng 71 cm, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 50 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 40 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 5,5 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn;
  • - 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 48 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 36 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 4,4 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn;
  • - 01 (một) cây súng làm bằng gỗ dài khoảng 35 cm, cán cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen phần trên của thân súng có khoét rảnh, đầu súng có gắn thanh kim loại tròn dài khoảng 8 cm đường kính 2 cm được quấn băng keo màu đen, cò súng làm bằng kim loại và được quấn băng keo màu trắng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 13kg;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 15kg;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 14kg;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 11kg;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó cái, cân nặng 15kg;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, hiện trạng đã chết, giống chó cỏ, giống chó cái, cân nặng 12kg;
  • - 01 (một) con chó màu trắng đen, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 13kg.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận như sau:

  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 13kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 628.329 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 15kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 724.995 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 14kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 676.662 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 11kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 513.663 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó cái, cân nặng 15kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 724.995 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu vàng, hiện trạng đã chết, giống chó cỏ, giống chó cái, cân nặng 12kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 579.996 đồng;
  • - 01 (một) con chó màu trắng đen, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 13kg, thời điểm ngày 21/7/2025 có giá trị là 628.329 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 4.476.969 đồng (bốn triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng).

Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 23/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn Thùy D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn Thùy D về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Thùy D mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Về phần dân sự: Bị hại là ông Phạm Văn Ú1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 628.329 đồng, bị cáo Trần Văn Thùy D đồng ý và đã bồi thường xong, các bị hại Mai Văn Ú, Nguyễn Ngọc T, Doãn Văn Đ, Trương T1, Trần Thị N, Võ Thành N1 không yêu cầu bị cáo Trần Văn Thùy D bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Xử lý vật chứng:

Ngày 21/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bị hại các tài sản như sau:

  • - Trả lại cho ông Phạm Văn Ú1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 13kg.
  • - Trả lại cho ông Trương T1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 15kg.
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Ngọc T 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 14kg.
  • - Trả lại cho bà Trần Thị N 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 11kg.
  • - Trả lại cho ông Võ Thành N1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó cái, cân nặng 15kg.
  • - Trả lại cho ông Mai Văn Ú 01 (một) con chó màu vàng, hiện trạng đã chết, giống chó cỏ, giống chó cái, cân nặng 12kg.
  • - Trả lại cho ông Doãn Văn Đ 01 (một) con chó màu trắng đen, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 13kg.

* Biện pháp tư pháp:

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • + Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cái bao màu xanh đậm dài 133 cm, rộng 71 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 50 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 40 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 5,5 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 48 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 36 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 4,4 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây súng làm bằng gỗ dài khoảng 35 cm, cán cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen phần trên của thân súng có khoét rảnh, đầu súng có gắn thanh kim loại tròn dài khoảng 8 cm đường kính 2 cm được quấn băng keo màu đen, cò súng làm bằng kim loại và được quấn băng keo màu trắng.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, qua điều tra không xác định được chủ sở hữu.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc Đ1 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Do không có tiền tiêu xài nên Trần Văn Thùy D cùng người tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nảy sinh ý định đi bắt trộm chó đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/7/2025, Trần Văn Thùy D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 chở P ngồi phía sau dùng súng chĩa điện, di chuyển qua nhiều tuyến đường trên địa bàn phường V và xã T, tỉnh An Giang bắn trộm của nhiều người dân được 07 (bảy) con chó các loại, có trọng lượng mỗi con dao động từ 11 (mười một) ki – lô – gam đến 15 (mười lăm) ki – lô – gam, tổng trọng lượng là 93 (chín mươi ba) ki – lô – gam, qua định giá tài sản có tổng giá trị là 4.476.969 đồng (bốn triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng). Khi D và P đang di chuyển trên đường 30 tháng 4, phường V, tỉnh An Giang, thì Trần Văn Thùy D bị lực lượng Công an phường V bắt quả tang, còn P bỏ trốn.

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ. Theo đó, hành vi của bị cáo Trần Văn Thùy D đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Thùy D bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này bị cáo D cùng thống nhất ý chí với đối tượng P và chở P thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Xét thấy, bị cáo Trần Văn Thùy D đã nhiều lần bị kết án, trong đó có 02 bản án chưa được xóa án tích mà còn phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Phạm Văn Ú1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 628.329 đồng, bị cáo Trần Văn Thùy D đồng ý và đã bồi thường xong, các bị hại Mai Văn Ú, Nguyễn Ngọc T, Doãn Văn Đ, Trương T1, Trần Thị N, Võ Thành N1 không yêu cầu bị cáo Trần Văn Thùy D bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Ngày 21/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bị hại các tài sản như sau:

  • - Trả lại cho ông Phạm Văn Ú1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 13kg.
  • - Trả lại cho ông Trương T1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 15kg.
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Ngọc T 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 14kg.
  • - Trả lại cho bà Trần Thị N 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực, cân nặng 11kg.
  • - Trả lại cho ông Võ Thành N1 01 (một) con chó màu vàng, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó cái, cân nặng 15kg.
  • - Trả lại cho ông Mai Văn Ú 01 (một) con chó màu vàng, hiện trạng đã chết, giống chó cỏ, giống chó cái, cân nặng 12kg.
  • - Trả lại cho ông Doãn Văn Đ 01 (một) con chó màu trắng đen, giống chó cỏ, hiện trạng đã chết, giống chó đực có quấn băng keo ở mõm, cân nặng 13kg.

Quá trình điều tra truy tố, xét xử không ai khiếu nại gì về việc xử lý vật chứng và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Biện pháp tư pháp:

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cái bao màu xanh đậm dài 133 cm, rộng 71 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 50 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 40 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 5,5 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 48 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 36 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 4,4 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây súng làm bằng gỗ dài khoảng 35 cm, cán cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen phần trên của thân súng có khoét rảnh, đầu súng có gắn thanh kim loại tròn dài khoảng 8 cm đường kính 2 cm được quấn băng keo màu đen, cò súng làm bằng kim loại và được quấn băng keo màu trắng.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, qua điều tra không xác định được chủ sở hữu.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn Thùy D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Thùy D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Thùy D 09 (chín) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về biện pháp tư pháp:

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cái bao màu xanh đậm dài 133 cm, rộng 71 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 50 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 40 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 5,5 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây chĩa điện dài khoảng 48 cm, cán làm bằng gỗ tròn dài khoảng 36 cm, một đầu có khoét rãnh và một đầu quấn băng keo đen cùng 01 sợi dây điện màu đỏ đen dài khoảng 4,4 mét và 02 thanh sắt dài khoảng 10 cm, hai đầu thanh sắt còn lại nhỏ nhọn; 01 (một) cây súng làm bằng gỗ dài khoảng 35 cm, cán cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen phần trên của thân súng có khoét rảnh, đầu súng có gắn thanh kim loại tròn dài khoảng 8 cm đường kính 2 cm được quấn băng keo màu đen, cò súng làm bằng kim loại và được quấn băng keo màu trắng.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1 – 063.40 màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, qua điều tra không xác định được chủ sở hữu.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14, ngày 23/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn Thùy D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 1 – An Giang;
  • - THA dân sự tỉnh An Giang;
  • - Phòng THA dân sự Khu vực 1 – An Giang;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an An Giang;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

BÙI CHÍ LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 118/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger