|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2025/HS-PT
Ngày: 16-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Ngọc Thông. |
| Ông Phạm Minh Tùng. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Minh P và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Duy A, Nguyễn Phát Đ và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2024/HS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Họ và tên: Phạm Minh P; Tên gọi khác: Luật E; Sinh năm: 2004; tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Tổ A, Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Phạm Văn C và bà: Nguyễn Thị R; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con nhỏ nhất; Vợ: Lê Thị Huỳnh G; Có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 21/4/2024 đến ngày 30/4/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên: Phạm Đinh L; Tên gọi khác: Luật A1; Sinh năm 2003; tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12;Con ông: Phạm Văn C và bà: Nguyễn Thị R; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con lớn nhất; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên: Nguyễn Anh D, sinh năm 2004, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Tổ G, Ấp B, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Lê Thị Kim Q; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh D theo yêu cầu: Luật sư Bùi Quốc T1 - Văn phòng L1 thuộc đoàn Luật sư T8 (có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Phát Đ; Tên gọi khác: T2; Sinh năm: 2003; tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn C1; và bà: Lê Thị Mai T3; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phát Đ theo yêu cầu: Luật sư Võ Thị Băng G1 - Văn phòng L2 thuộc đoàn Luật sư Đ1 (có mặt).
(Cả 04 bị cáo đều tại ngoại và cùng có mặt tại phiên toà)
Bị cáo có liên quan đến kháng nghị: Trương Hoàng Tuấn K, sinh ngày: 22/10/2009, tại Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Tổ D, Khóm E, Phường F, thành phố C, Đồng Tháp.
Người đại diện của bị cáo K: Ông Trương Hoàng T4, sinh năm: 1985 và bà Trần Thiên T5, sinh năm: 1985 (cha, mẹ ruột, có mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ D, khóm E, Phường F, thành phố C, Đồng Tháp.
Bị hại: Võ Chí T6, sinh năm: 2002 (có mặt);
Địa chỉ: Số D, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo Trương Hoàng Tuấn K và bị hại không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 20/4/2024, Phạm Đinh L, Phạm Minh P, Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Anh D và một số người khác uống bia trên vỉa hè tại quán “Xóm Nhậu” thuộc Tổ A, Khóm B, Phường F, thành phố C. Pháp nhìn vào phía trong quán thì thấy một người thanh niên đang ngồi uống bia mặc áo đen, đội nón kết hiệu Gucci nhìn giống với Nguyễn Trường A2 là người đã có mâu thuẫn với Pháp trước đó. Một lúc sau, P chở bạn gái là Lê Thị Huỳnh G về trước để đi đám sinh nhật bạn. Trên đường đi, P gọi điện thoại cho L xác nhận người thanh niên đang ngồi đối diện là A2 và hỏi Luật “Chơi tụi nó không?” (tức đánh tụi nó không?), Luật trả lời “Ok, chơi thì chơi”. Luật nói lại với D và Đ rằng “Thằng ngồi đối diện trước đây có mâu thuẫn với Pháp” nên cả nhóm tính tiền đi về còn Luật, D, Đ đi về hướng chợ T9 (Phường F) cách quán “Xóm Nhậu” 150m để đợi Pháp. Sau khi đi đám xong, P chở bạn gái tên G về nhà trọ thuộc đường N, Phường F, thành phố C để nghỉ ngơi, còn Pháp thì lấy 01 con dao tự chế có cán bằng gỗ giấu vào trong người dùng áo khoác che lại một mình điều khiển xe mô tô biển số 66PA-105.93 và đậu gần quán “Xóm N” gặp Luật, D, Đ. Thời điểm này, Nguyễn Hoài N đang điều khiển xe chở Trương Hoàng Tuấn K, sinh ngày 22/10/2009 để đi uống bia thì K gặp nhóm người của Pháp đang đứng nên K kêu N dừng xe lại đứng đợi bên đường, còn K một mình đến chỗ nhóm của Pháp cách đó khoảng hơn 10m, K hỏi “Vụ gì vậy?” thì 01 người trong nhóm của P trả lời “Lại xử thằng kia”, K hỏi “Có cần đồ không?” (tức cần hung khí là dao không?), có người trong nhóm P trả lời là “Cần” nên K kêu N chở về nhà để lấy “đồ” nhưng K không nói cho N biết về lấy dao. N chở K về nhà và K vào nhà lấy 02 cây dao tự chế giấu trong áo khoác không cho ai thấy và kêu N chở K đi đến vựa xoài gần quán “Xóm nhậu” để gặp Pháp. Gần đến nơi thì K kêu N dừng cho K xuống xe và kêu N đi về nên N không biết K đến gặp Pháp để đi đánh nhau. Khi gặp nhóm của P thì K đưa cho D và P mỗi người 01 cây dao tự chế, Pháp đưa cây dao tự chế của P mang theo cho L sử dụng.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lúc này P đang cầm dao, cần người chở mình nên nói “Có ai rảnh không qua chở dùm”, K trả lời “Để em chở anh đi” nên K điều khiển xe mô tô 66PA-105.93 chở Pháp, còn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66FA-111.21 chở D và L, 05 người cùng nhau đến quán “Xóm N” tìm gặp người tên A2 để gây thương tích. Khi đến nơi Đ, K ngồi trên xe đợi bên ngoài, Luật, Pháp, D xuống xe mỗi người cầm trên tay 01 cây dao tự chế xông vào quán đi đến chỗ anh Võ Chí T6 (người mà Pháp nhầm lẫn là A2) đang ngồi uống bia cùng với một số người khác, L dùng dao tự chế chém 01-02 cái trúng vào vai bên phải của anh T6 thì cây dao của Luật rơi lưỡi ra khỏi cán, P dùng dao tự chế chém 01-02 cái trúng vào lưng và tay của bị hại T6 làm T6 hoảng sợ bỏ chạy thì D chém với theo trúng trượt vào lưng 01 cái, T6 và những người khác bỏ chạy vào trong quán. Thời điểm này, thấy T6 bị Luật, Pháp, D chém gây thương tích nên bạn của T6 là Nguyễn Duy H dùng ghế nhựa ném về phía Pháp để ngăn cản Pháp thì P, Luật nhặt lưỡi dao, cán dao (mà L đã làm rơi) và dùng ghế mũ ném vào trong quán nhưng không trúng ai, không gây thiệt hại về tài sản.
Trong lúc Luật, Pháp, D thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại T6 làm những người khách đang ngồi ăn uống và nhân viên phục vụ trong quán hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng đến việc kinh doanh của quán. Sau khi gây thương tích cho bị hại, Pháp, Luật, D nhanh chóng ra xe cùng Đ, K rời khỏi hiện trường. Anh T6 được bạn đưa đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu và nhập viện điều trị đến ngày 26/4/2024 thì xuất viện. Sau khi sự việc xảy ra, Công an P1 đã phối hợp cùng Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đến xác minh, tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 cây dao tự chế có lưỡi bằng kim loại dài 69cm x rộng 03cm một đầu nhọn và 01 cán dao bằng gỗ có kích thước dài 25cm x rộng 3,5cm.
Ngày 21/4/2024, Phạm Minh P đến Cơ quan điều tra Công an thành phố C đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô, loại Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 66PA-105.93; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen; 01 áo sơ mi sọc ca-rô, loại áo tay dài, có màu đỏ-xanh-vàng nhạt; 01 quần Jean màu xanh, loại quần dài; 01 đôi dép màu đỏ, đã qua sử dụng. Sau đó, các Trương Hoàng Tuấn K, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ đã đến Cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp công cụ và phương tiện, như sau: Kiệt giao nộp 01 cây dao tự chế có chiều dài 52cm, lưỡi rộng 3,8cm, cán gỗ dài 13,7cm, đường kính cán gỗ 3,5cm x 03cm, có vỏ bằng bìa carton, bên ngoài có quấn băng keo đen dài 3,9cm, rộng 5,5cm, bên trong rỗng. Đạc giao nộp: 01 áo thun tay ngắn, màu đỏ; 01 quần tây, loại quần dài màu đen; 01 đôi dép màu đen, có quai kẹp sọc caro; 01 nón bảo hiểm màu xám, có lưỡi trai màu đen, đã qua sử dụng. D giao nộp: 01 cây dao tự chế có chiều dài 44,5cm, lưỡi dao rộng 03cm, cán gỗ dài 17,5cm, đường kính cán gỗ 04cm x 2,5cm; 01 xe mô tô loại Vision, màu xanh, biển kiểm soát 66FA-111.21; 01 nón bảo hiểm màu trắng, có lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác thun tay dài màu xanh; 01 quần Jean dài màu đen; 01 đôi dép quai kẹp màu đen, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra đã xác định một số tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả tài sản lại cho các bị can Pháp, D, Đ. Đối với xe mô tô loại Vision, màu xanh, biển kiểm soát 66FA-111.21 của chị Nguyễn Thị Thu T7 (Cô ruột D) và xe mô tô, loại Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 66PA-105.93 của bà Nguyễn Thị R (Mẹ của Pháp) cho D, P mượn sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô nói trên lại cho chị T7 và bà R.
Ngày 22/4/2024, bị hại Võ Chí T6 có đơn yêu cầu xử lý hình sự những người đã gây thương tích cho anh T6. Cùng ngày, Công an P1 chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để giải quyết theo thẩm quyền.
Hành vi của K cung cấp hung khí cho D và Pháp, chở P đến hiện trường, Đ chở D và L cầm hung khí đến hiện trường sau đó Luật, Pháp, D đã dùng hung khí chém người gây thương tích xảy ra vào khoảng hơn 22 giờ ngày 20/4/2024 tại quán “Xóm N” làm ảnh hưởng xấu đến trật tự chung, gây lộn xộn khu vực đông người. Các đối tượng này hò hét rượt đuổi chém người khác, lôi kéo, kích động nhiều người cùng tham gia dùng hung khí chém người, đập phá tài sản đã làm hoang mang, lo sợ cho những người xung quanh. Ngày 26/4/2024, Ủy ban nhân dân Phường F đã có Công văn số 60/CV đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố C xử lý các đối tượng trên về tội “Gây rối trật tự công cộng” để mang tính răn đe, phòng ngừa chung về sau.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 240 ngày 24/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã kết luận đối với Võ Chí T6 như sau: Vết thương phần mềm lưng phải, kích thước trung bình 02%; Vết thương phần mềm mặt sau ngoài 1/3 giữa cánh tay phải, kích thước trung bình 02%; Vết thương phần mềm từ mặt trước đến mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước trung bình 02%; Vết thương phần mềm mặt sau khuỷu tay trái, kích thước nhỏ 01%; Vết thương phần mềm mặt ngoài sau 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước trung bình 01%; Vết thương phần mềm mặt trước 1/3 dưới cánh tay trái, kích thước nhỏ 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Chí T6 tại thời điểm giám định là 10%. Các tổn thương trên do vật sắc gây ra; cơ chế hình thành vết thương cho ngoại lực tác động. Đề nghị giám định bổ sung sau khi đương sự điều trị ổn định.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 20 ngày 27/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã kết luận đối với Võ Chí T6 như sau: Hạn chế chức năng khớp cổ tay vừa, tỷ lệ tổn thương 13%; hạn chế vận động bàn tay trái mức độ vừa, tỷ lệ tổn thương 13%; gãy 1/3 dưới xương trụ trái đã kết hợp xương, tỷ lệ tổn thương 08% và tổn thương nhánh thần kinh quay trái, tỷ lệ tổn thương 13%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể bổ sung của Võ Chí T6 tại thời điểm giám định là 39%, áp dụng phương pháp cộng lùi. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 240 ngày 24/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tổn thương cơ thể của Võ Chí T6 là 10%. Như vậy, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Chí T6 là 45%. Các tổn thương trên do vật sắc gây ra; cơ chế hình thành vết thương cho ngoại lực tác động.
Trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Phạm Minh Pháp, Phạm Đinh L, Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Anh D, Trương Hoàng Tuấn K đã thỏa thuận và bồi thường xong cho bị hại Võ Chí Tó số tiền là 120.000.000 đồng. Bị hại T6 đã nhận đủ tiền, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự đối với các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh P 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Phạm Minh P là 09 (C2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Nhưng đuợc trừ thời gian tạm giữ ngày 21/4/2024 đến ngày 30/4/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh L 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Phạm Đinh L là 09 (C2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 02 (Hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Nguyễn Anh D là 07 (B) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đ 04 (B) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đ 02 (Hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Nguyễn Phát Đ là 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Trương Hoàng Tuấn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Từ ngày 12 đến ngày 13/12/2024, các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 02 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSĐT với nội dung kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án hình sự phúc sơ thẩm, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Minh P, không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt tù đối với bị cáo P ở tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới ngoại trừ bị cáo Đ có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông của bị cáo là liệt sĩ, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bà của bị cáo được tặng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L, D, Đ.
Riêng bị cáo Phạm Minh P, trong vụ án này, bị cáo P giữ vai trò chính, là người khởi xướng, rũ rê các bị cáo L, D, Đ và K (14 tuổi, 5 tháng, 29 ngày) cùng thực hiện tội phạm và cùng với các bị cáo L, D trực tiếp dùng dao tự chế gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo Đ, K là người giúp sức tích cực, trong đó K khi nghe P nói chuẩn bị đánh nhau thì bị cáo chạy về nhà lấy 02 cây dao tự chế đưa cho P và D mỗi người 01 cây dao và dùng xe mô tô chở P đến hiện trường để Pháp, Luật, D dùng dao rượt chém bị hại, làm cho khách và nhân viên phục vụ trong quán hoảng sợ bỏ chạy, gây mất trật tự trị an nơi công cộng. Án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là thiếu sót.
Bị cáo P giữ vai trò chính, là người khởi xướng, rũ rê các bị cáo L, D, Đ và K cùng thực hiện tội phạm nhưng cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt cho hai bị cáo P và L bằng nhau về tội “Cố ý gây thương tích” là chưa phân hóa, lượng hình đúng vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án.
Ngoài ra, phần quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm cũng có sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Do mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo P không thuộc trường hợp áp dụng dưới khung hình phạt nhưng trong phần quyết định lại áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự là có sự nhầm lẫn.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, sửa bản án hình sự phúc sơ thẩm, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Minh P, không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt tù đối với bị cáo P ở tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị phạt bị cáo Phạm Minh P tội “Cố ý gây thương tích” từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh D phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh “Cố ý gây thương tích” và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo D. Vị luật sư phân tích về nguyên nhân, điều kiện cũng như ý thức phạm tội của bị cáo và cho rằng bị cáo thiếu hiểu biết về pháp luật, nghe bạn bè rũ rê thì thực hiện chứ bị cáo không phải là người giúp sức tích cực. Bị cáo có dùng dao chém nhưng không trúng bị hại. Sau khi phạm tội đã đi đầu thú và bồi thường cho bị hại xong. Cấp sơ thẩm phạt bị cáo D 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là nặng cho bị cáo.
Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”, luật sư đã viện dẫn các quy định của pháp luật và cho rằng nơi xảy ra sự việc là trong quán nhậu chứ không phải nơi công cộng. Bị cáo thực hiện cùng một hành vi diễn ra trong một thời điểm mà cấp sơ thẩm quy kết bị cáo hai tội là bất lợi cho bị cáo. Vị luật sư đề nghị có thể xem xét phạt tiền đối với bị cáo ở tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo D.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phát Đ phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên. Đồng thời vị luật sư cũng viện dẫn, phân tích về nguyên nhân, điều kiện cũng như ý thức phạm tội của bị cáo và cho rằng bị cáo Đ chỉ tham gia với vai trò giúp sức, bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, bị cáo ngồi ngoài xe đợi đồng phạm, không tham gia đánh nhau, gây rối và nêu ra các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo mới cung cấp ở giai đoạn xét xử phúc thẩm như gia đình bị cáo có công với cách mạng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn để xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Bị cáo Phạm Minh P không đồng ý với nội dung kháng nghị.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm, bị hại cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/4/2024, do muốn gây thương tích với người có mâu thuẫn với mình là Nguyễn Trường A2 để trả thù nên bị cáo P cùng các đồng phạm là Luật, D, Đ, K chuẩn bị hung khí đến hiện trường và đã chém nhầm bị hại Võ Chí T6 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45%. Trong lúc các bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại T6 thì các bị cáo còn gây rối trật tự công cộng tại hiện trường là quán “Xóm N” làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương Phường F, thành phố C.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Các bị cáo đều là người có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo P đã rũ rê các bị cáo còn lại sử dụng dao tự chế chém gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo đều nhận thức được dao tự chế là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng dao tự chế tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật và bản thân bị cáo P cũng nhận thức được việc rũ rê, xúi giục người khác mang theo hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45%.
Ngoài ra, khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại, các bị cáo có hành vi cầm hung khí rượt đuổi bị hại, la ó lớn tiếng, làm cho khách và nhân viên phục vụ trong quán hoảng sợ bỏ chạy, gây mất trật tự trị an nơi công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt nhưng các bị cáo P, Luật không cung cấp được tình tiết gì mới. Còn bị cáo Đ có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông của bị cáo là liệt sĩ, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bà của bị cáo được tặng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo D cung cấp thêm tình tiết mới là bị cáo mới kết hôn và hiện vợ bị cáo đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo D và Đ. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm đã có xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L, D, Đ.
Sau khi án sơ thẩm tuyên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSĐT ngày 02 tháng 01 năm 2025, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án hình sự phúc sơ thẩm, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Minh P, không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt tù đối với bị cáo P ở tội “Cố ý gây thương tích”.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là hoàn toàn có có căn cứ. Bởi lẽ: Trong vụ án này, tuy các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau nên đây chỉ là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Bị cáo Phạm Minh P là người khởi xướng, rũ rê các bị cáo L, D, Đ và K (14 tuổi, 5 tháng, 29 ngày) cùng thực hiện tội phạm và cùng với các bị cáo L, D trực tiếp dùng dao tự chế gây thương tích cho bị hại. Do đó bị cáo P phải chịu trách nhiệm với vai trò chính trong vụ án còn các bị cáo L, D là người thực hành tích cực.
Đối với các bị cáo Đ, K là người giúp sức tích cực. Đ dùng xe chở D và Luật đến hiện trường, còn K thì khi nghe P nói chuẩn bị đánh nhau thì bị cáo chạy về nhà lấy 02 cây dao tự chế đưa cho P và D mỗi người 01 cây dao và dùng xe mô tô chở P đến hiện trường để Pháp, Luật, D dùng dao rượt chém bị hại, làm cho khách và nhân viên phục vụ trong quán hoảng sợ bỏ chạy, gây mất trật tự trị an nơi công cộng.
Án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P là thiếu sót. Mặt khác, bị cáo P giữ vai trò chính, là người khởi xướng, rũ rê các bị cáo L, D, Đ và K cùng thực hiện tội phạm nhưng cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt cho hai bị cáo P và L bằng nhau về tội “Cố ý gây thương tích” là chưa phân hóa, cá thể hoá đúng vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Ngoài ra, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo P không thuộc trường hợp áp dụng dưới khung hình phạt nhưng trong phần quyết định lại áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự là có sự nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phạm Minh P.
[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L, D, Đ.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSĐT ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phạm Minh P.
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D và Nguyễn Phát Đ cùng phạm các tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh P 07 (bảy) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Phạm Minh P phải chấp hành là 09 (Chín) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ ngày 21/4/2024 đến ngày 30/4/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh L 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Phạm Đinh L là 09 (C2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 02 (Hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Nguyễn Anh D là 07 (B) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đ 04 (B) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đ 02 (Hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Nguyễn Phát Đ là 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
-
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Phạm Minh P, Phạm Đinh L, Nguyễn Anh D, Nguyễn Phát Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 118/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 118/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
