|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2025/HS-ST Ngày 12-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Giàu.
- Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 119/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với:
Bị cáo Nguyễn Trung H. Giới tính: Nam.
Sinh năm 2005 tại Đồng Nai.
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: B, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: Lớp 08/12. - Nghề nghiệp: Không.
Họ tên C: Nguyễn Trí H1, sinh năm 1967 (Còn sống).
Họ tên M: Nguyễn Thị Kim L (Đã chết).
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 20/10/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 2118/LTG ngày 28/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Nguyễn Trung H là người sử dụng trái phép chất ma túy (Ma tuý tổng hợp).
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/10/2024, H sử dụng tài khoản mạng xã hội Telegram của H tên H2 liên hệ với người thanh niên có nick name “Tạp hoá vui vẻ” (không rõ lai lịch) để hỏi mua ma tuý với mục đích để sử dụng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, người thanh niên nêu trên đến trước nhà H địa chỉ B, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho H 02 (Hai) viên ma túy thuốc lắc và 01 (Một) gói ma túy (hàng khay) với giá 3.200.000đ (Ba Triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó H mang số ma túy vừa mua vào nhà địa chỉ nêu trên. Tại đây H lấy một phần ma tuý hàng khay ra sử dụng kèm với 3/4 viên ma tuý thuốc lắc. Phần còn lại H cất giấu để sử dụng gồm: 1/4 viên ma tuý thuốc lắc gói vào trong tờ tiền 5.000đ (Năm nghìn đồng), 01 phần ma tuý hàng khay đã cà nhuyễn gói vào trong tờ tiền 2.000₫ (Hai nghìn đồng), 01 phần ma tuý hàng khay (chưa cà nhuyễn) gói trong túi Z, 01 viên ma tuý thuốc lắc hình lựu đạn màu xám gói trong túi Ziper.
Khoảng 23 giờ ngày 19/10/2024, Phạm Văn H3 (sinh năm 2000, thường trú tại: 6, khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai- là bạn của H) gọi điện rủ H đến quán A2 thuộc khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để uống bia và nghe nhạc, H đồng ý. Lúc này, Hồ Thị Lan A đang đi cùng với H3 và biết H sẽ đến chơi cùng với nhóm nên Lan A nhắn tin cho H qua Z1 nói H đem cho Lan A nửa viên thuốc lắc để sử dụng thì H đồng ý và nhắn tin cho Lan A khi nào Lan A lấy để sử dụng thì ra nhà vệ sinh của quán H sẽ đưa. H cất giấu 01 (Một) viên thuốc lắc trong hộp màu đen trên nền phòng ngủ nhà H. H cất giấu số ma túy còn lại nêu trên vào túi quần sau bên trái của H đang mặc đến quán A2, khu phố G, phường T, Thành Phố B, tỉnh Đồng Nai để sử dụng.
Khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, H cùng với H3, Lan A, Vũ Ngọc H4, Đỗ Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng Gia Al ngồi nghe nhạc và uống bia tại bàn Vip 13 của quán ADM. Trong lúc cả nhóm ngồi nghe nhạc H một mình đi vào nhà vệ sinh lấy số ma tuý hàng khay được cuộn trong tờ tiền 2.000đ (Hai nghìn đồng) ra sử dụng hết. H bỏ tờ tiền 2.000₫ (Hai nghìn đồng) vào túi quần sau bên trái rồi tiếp tục ra ngoài cùng cả nhóm uống bia và nghe nhạc.
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, trong lúc H đang cất giấu 01 (Một) túi Zip bên trong có hàng khay (chưa cà nhuyễn) và chưa kịp đưa 1/4 viên ma tuý thuốc lắc được gói trong tờ tiền 5.000đ (Năm nghìn đồng) cho Lan A và đang ngồi nghe nhạc cùng với H3, Lan A, Gia A1, Đ, H4 tại bàn Vip 13 quán ADM thì H bị Công an phường T bắt quả tang chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khám xét nhà của Nguyễn Trung H phát hiện thu giữ 01 (một) gói nilon bên trong chứa 01 viên nén hình quả lựu đạn màu xám của H cất giấu trong chiếc hộp màu đen để trên nền trong phòng ngủ của H.
Quá trình điều tra Nguyễn Trung H khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) gói nilon loại Zip bên trong chứa chất màu trắng (H khai là ma tuý hàng khay).
- 01 (một) phần viên nén màu xám được gói trong tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng) H khai là ma tuý thuốc lắc của H.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng) có bám dính chất màu trắng.
- 01 (một) gói nilon bên trong chứa 01 viên nén hình quả lựu đạn màu xám thu giữ trong phòng ngủ của H (H khai là ma tuý thuốc lắc của H).
- Thu giữ tiền và đồ vật H sử dụng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma tuý: 01 (một) đĩa sứ hình tròn, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ (Mười nghìn đồng), 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng), 01 (một) loa màu đen, 03 (ba) tờ tiền mỗi tờ có mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax số điện thoại 0766.766.xxx, số imel: 355909995218396 của Nguyễn Trung H. H khai sử dụng để liên lạc mua ma tuý.
* Tại bản Kết luận giám định số 2102/KL-KTHS ngày 25-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- “- Mẫu chất màu trắng (mẫu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,0280gam, loại: Ketamine.
- Mẫu mảnh vỡ viên nén màu xám (mẫu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0723gam, loại: MDMA.
- Mẫu chất màu trắng bám dính trên tờ tiền (mẫu M13) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
- Mẫu viên nén màu xám (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5450gam, loại: MDMA.
- Mẫu chất màu trắng bám dính trên đĩa sứ (mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.”
Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã kiểm tra tài khoản Telegram tên H2 của Nguyễn Trung H nhưng không tìm thấy thông tin liên lạc của tài khoản “Tạp hóa vui vẻ”. H khai sau khi đặt mua ma túy H đã xóa tài khoản “Tạp hóa vui vẻ” khỏi trang của H.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 143/CT-VKSBH-HS ngày 13/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
Áp dụng điểm i khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 00 giờ 30 ngày 20/10/2024, tại bàn V, quán A2 thuộc khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tại nhà số B, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 1,0280gam ma túy loại Ketamine và 0,6173gam ma túy loại MDMA với mục đích sử dụng thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản cáo trạng số 143/CT-VKSBH-HS ngày 13/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội và việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[3] Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000₫ (Năm nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ (Mười nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 03 (ba) tờ tiền mỗi tờ có mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng); 01 (một) loa màu đen; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax số điện thoại 0766.766.xxx, số imel: 355909995218396 là tiền và đồ vật Nguyễn Trung H sử dụng vào việc phạm tội.
[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:
Đối với người thanh niên có nickname “ Tạp hóa vui vẻ” (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) bán ma túy cho Nguyễn Trung H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Hồ Thị Lan A nhắn tin cho H nói H đem nửa viên thuốc lắc cho Lan A sử dụng. Kết quả điều tra xác định H chưa đưa ma túy cho Lan A sử dụng thì bị bắt quả tang nên hành vi của Hồ Thị Lan A không cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với Phạm Văn H3, Vũ Ngọc H4, Đỗ Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng Gia Al có mặt tại bàn V 13 quán ADM thời điểm bắt quả tang. Kết quả điều tra xác định H3, H4, Đ, Gia A1 không biết việc H tàng trữ trái phép chất ma túy, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của H.
Đối với Phạm Văn H3, Hồ Thị Lan A khai sử dụng trái phép chất ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng bạn ngày 17/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã có Công văn thông báo cho Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H số 27508/CV ngày 27/11/2024 để tiếp nhận, giải quyết.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 10 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000₫ (Năm nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000₫ (Hai nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ (Mười nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng); 03 (ba) tờ tiền mỗi tờ có mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng); 01 (một) loa màu đen; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax số điện thoại 0766.766.xxx, số imel: 355909995218396 là tiền và đồ vật Nguyễn Trung H sử dụng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2025 và Biên lai số 0001846 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thành Thị Thu Trang |
Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 118/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo tàng trữ ma túy
