Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HS-PT

Ngày: 10/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào

Bà Nguyễn Thị Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 507/2024/TLPT-HS, ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Thị N và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 223/2024/HS-ST, ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Vũ Thị N, sinh ngày 01/01/1982 tại tỉnh Hải Dương;

    Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp S, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn N1, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1954; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có chồng là Lâm Văn V (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2002;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 07/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng và phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Hiện bị cáo đã chấp hành xong các hình phạt của bản án (Bản án số 02/2011/HSST ngày 07/11/2011).

    Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 29/06/2024 đến ngày 13/8/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam do gia đình bảo lãnh. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;

    Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)

  2. Đào Nguyên K, sinh ngày 20/11/1984 tại tỉnh Đồng Nai;

    Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Đào Tiến D, sinh năm 1956 và bà Trần Thị K1, sinh năm 1955; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ là Trịnh Gia L, sinh năm 1996 và có 02 con: lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 06/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 45 tháng 10 ngày tính từ ngày tuyên án. Hiện bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án (Bản án số 07/2010/HSST ngày 06/01/2010).

    Bị cáo bị bắt từ ngày 13/02/2024 và chuyển sang tạm giữ đến ngày 22/02/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn do gia đình bảo lãnh. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;

    Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)

Ngoài ra, còn có các bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 13/02/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra nhà của Phùng Văn T thuê của chị Lê Thị Huyền T1 tại tổ C, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phát hiện bắt quả tang: Phùng Văn T, Nguyễn Thị Phương H, Đào Nguyên K, Phan Quốc B, Lê Dương Bảo D1, Trần Minh P, Nguyễn Chí T2, Võ Nhật D2, Trần Phương Gia B1 và Nguyễn Thị Kim N2 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “cào 3 lá” thắng thua bằng tiền. Thu giữ trên chiếu bạc một bộ bài tây 52 lá và tổng số tiền trên chiếu bạc là 9.500.000 đồng và 8.935.000 đồng thu trên người của những người đánh bạc. Riêng Nguyễn Thị Kim L1, Vũ Thị N và Nguyễn Tấn P1 và 01 thanh niên tên thường gọi là “Bé” (không rõ nhân thân, lại lịch) bỏ chạy thoát. Đến 15 giờ ngày 15/02/2024, Nguyễn Thanh Đ1 đến Công an huyện L đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đến ngày 19/02/2024, Nguyễn Tấn P1 đã đến Công an huyện L đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Riêng đối với Vũ Thị N đến ngày 29/6/2024, N bị Công an huyện L bắt bị cáo để tạm giam.

Quá trình điều tra xác định: khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/02/2024, Nguyễn Thanh Đ1 rủ Lê Dương Bảo D1, Phan Quốc B, Trần Phương Gia B1, và Nguyễn Thị Kim N2 đến nhà của anh Đỗ Minh Đ2 (là bạn bè quen biết với Đ1, do anh Đ2 về quê và gửi Đ1 trông coi nhà dùm) thuộc ấp B, xã L, huyện L, Đồng Nai để ăn uống. Sau khi ăn uống xong, thấy có đông người, sợ tập trung chơi đánh bài ăn thua bằng tiền bị phát hiện nên Đ1 nói tất cả không chơi tại đây. Lúc này, Phùng Văn T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến thấy tụ tập đông người nên T rủ tất cả đến nhà của T thuê của chị Lê Thị Huyền T1, địa chỉ tổ C, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để đánh bạc. Lúc này, T thỏa thuận với Đ1 rủ tất cả về nhà T chơi rồi thu tiền xâu chia đôi, Đ1 đồng ý. Đ1 nói với T để Võ Nhật D2 thu tiền xâu giúp T rồi sau đó sẽ chia lại với Đ1 sau. Khi đến nhà, T chuẩn bị địa điểm là phòng ngủ thứ hai và trải sẵn một tấm mền trên nền nhà để làm chiếu bạc, chuẩn bị 01 bộ bài tây 52 lá và mua nước uống để phục vụ cho những người đánh bạc. Sau đó, Phùng Văn T, Nguyễn Thị Phương H, Đào Nguyên K, Phan Quốc B, Lê Dương Bảo D1, Trần Minh P, Nguyễn Chí T2, Trần Phương Gia B1, Nguyễn Thị Kim N2, Nguyễn Tấn P1, Vũ Thị N, “Bé” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cùng đến nhà của T để tham gia đánh bạc bằng hình thức bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền. Cách chơi quy định như sau: Người chia bài được gọi là “cái”, chia bài cho các con bạc. Các con bạc đặt tiền cược tại vị trí mình ngồi trước khi cái chia bài, đặt cược thấp nhất 100.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng. “Cái” sẽ chia cho mỗi người 03 lá bài, sau khi cái chia bài thì mỗi người sẽ xem bài của mình và cộng số điểm trên mỗi con bài, sau đó tính số điểm hằng đơn vị của tổng 03 lá bài là điểm của mình (Mỗi cây bài J, Q, K riêng lẻ đều tính là 10 điểm để cộng tổng), không so sánh chất của các lá bài. Nếu bài có 03 lá bài là kết hợp bất kỳ của các lá bài J, Q, K thì tính là 03 tây và điểm cao nhất. Người nào cao điểm hơn điểm của “cái” thì ăn với tỷ lệ 01 ăn 01, còn nếu thấp điểm hơn điểm của cái thì sẽ thua số tiền đã đặt cược. Ngoài ra các con bạc có thể “đá” ngang với nhau thông qua bài của “cái”, góp tiền đặt chung một tụ hoặc góp tiền chơi chung với “cái”. Ai làm “cái” mỗi khi thắng thì phải đóng tiền xâu từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng cho Võ Nhật D2. Những người tham gia đánh bạc cụ thể như sau: Phùng Văn T sử dụng 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị Phương H sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 400.000 đồng; Đào Nguyên K sử dụng 2.700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 1.100.000 đồng; Phan Quốc B sử dụng 530.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 400.000 đồng; Lê Dương Bảo D1 sử dụng 6.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 3.000.000 đồng; Trần Minh P sử dụng 755.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 700.000 đồng; Nguyễn Chí T2 sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 500.000 đồng; Trần Phương Gia B1 sử dụng 230.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 200.000 đồng; Nguyễn Thị Kim N2 sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 100.000 đồng; Nguyễn Tấn P1 sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 1.800.000 đồng; Vũ Thị N sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua hết 100.000 đồng.

Trong quá trình chơi, thì có Nguyễn Tấn P1 và người thanh niên tên B2 (Không rõ tên tuổi, địa chỉ) làm cái và đưa cho Võ Nhật D2 400.000 đồng tiền xâu.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng thu giữ: Đã được cấp sơ thẩm xử lý đúng quy định pháp luật.

3. Quyết định của Cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị N và Đào Nguyên K phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án (nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước đó từ ngày 29/06/2024 đến ngày 13/8/2024).

- Xử phạt: Bị cáo Đào Nguyên K 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án (nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước đó từ ngày 13/02/2024 đến ngày 22/02/2024).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác trong vụ án:

Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, xử phạt: Bị cáo Phùng Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Các bị cáo Nguyễn Thanh Đ1, Võ Nhật D2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thanh Đ1 60.000.000 đồng.
  • Bị cáo Võ Nhật D2 25.000.000 đồng.

Các bị cáo Trần Minh P, Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Thị Phương H, Nguyễn Chí T2, Lê Dương Bảo D1, Phan Quốc B, Trần Phương Gia B1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:

  • Bị cáo Trần Minh P 07 (Bảy) tháng tù.
  • Bị cáo Nguyễn Tấn P1 30.000.000 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Phương H 35.000.000 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Chí T2 25.000.000 đồng.
  • Bị cáo Lê Dương Bảo D1 40.000.000 đồng.
  • Bị cáo Phan Quốc B 20.000.000 đồng.
  • Bị cáo Trần Phương Gia B1 10.000.000 đồng.

Tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Kháng cáo:

  • - Ngày 25/9/2024, bị cáo Đào Nguyên K kháng cáo xin được hưởng án treo với nội dung: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, hiện chăm lo cho vợ (không có công việc ổn định) và 02 con còn nhỏ (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019).
  • - Ngày 02/10/2024, bị cáo Vũ Thị N kháng cáo xin được hưởng án treo với nội dung: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đã ly dị chồng và bị cáo đang bị bệnh rối loạn lo âu (khám và điều trị tại Bệnh viện T3) đang được bác sĩ điều trị theo toa tại nhà, hiện bị cáo đang chăm sóc cha mẹ già (cha là thương binh) và em trai (bị liệt là nạn nhân bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam).

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của các bị cáo.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm giải quyết vụ án:

Bản án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Vũ Thị N, Đào Nguyên K về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng án treo và cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo N cung cấp Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ già và em trai bị khuyết tật. Bản thân bị cáo N hiện đang bị bệnh rối loạn lo âu điều trị tại Bệnh viện T3 và đang điều trị tại nhà. Bị cáo K cung cấp Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải chăm lo cho vợ và nuôi 02 con nhỏ ăn học.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt, cho các bị cáo được phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Vũ Thị N và Đào Nguyên K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể:

Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 13/02/2024, tại nhà thuê của bị cáo Phùng Văn T ở tổ C, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Các bị cáo Phùng Văn T, Nguyễn Thanh Đ1 và Võ Nhật D2 có hành vi “tổ chức đánh bạc” dưới hình thức chơi bài “Cào 3 lá” ăn thua bằng tiền cho những người đánh bạc để thu tiền xâu. Trong đó, bị cáo T là người chuẩn bị địa điểm, 01 bộ bài tây và mua nước uống, bị cáo Đ1 là người kêu bị cáo D2 có nhiệm vụ thu tiền xâu rồi cùng chia nhau tiêu xài. Những người đánh bạc gồm: các bị cáo Phùng Văn T, Vũ Thị N, Lê Dương Bảo D1, Phan Quốc B, Nguyễn Thị Phương H, Trần Minh P, Nguyễn Chí T2, Trần Phương Gia B1, Nguyễn Tấn P1, Đào Nguyên K và Nguyễn Thị Kim N2. Khi tất cả đang đánh bài thì bị lực lượng Công an xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.500.000 đồng và 01 bộ bài tây, thu giữ trên người những người đánh bạc số tiền 8.935.000 đồng (trong đó có 20.000 đồng thu của Võ Nhật D2 không sử dụng vào mục đích đánh bạc). Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.415.000 đồng (Mười tám triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng).

Với hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo Vũ Thị N và Đào Nguyên K đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình, trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt mỗi bị cáo mức án 06 (Sáu) tháng tù là có cơ sở.

Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo Vũ Thị N và Đào Nguyên K tuy có nhân thân nhưng vụ án xảy ra đã lâu (năm 2011 và năm 2010); phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với số tiền đánh bạc không lớn (bị cáo Vũ Thị N sử dụng 400.000 đồng, bị cáo Đào Nguyên K sử dụng 2.700.000 đồng); các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng án treo và cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo N cung cấp Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ già và em trai bị khuyết tật (là nạn nhân bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam). Bản thân bị cáo N hiện đang bị bệnh rối loạn lo âu điều trị tại Bệnh viện T3 và đang điều trị tại nhà (đính kèm đơn thuốc của Vũ Thị N tại Bệnh viện T3). Bị cáo K cung cấp Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải chăm lo cho vợ và nuôi 02 con nhỏ ăn học (đính kèm Trích lục khai sinh các con: Đào Nguyên K2, sinh ngày 09/02/2019 và Đào Gia H1, sinh ngày 15/3/2016).

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện, không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là cũng đủ nghiêm. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không trái với Điều 2 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa, ăn năn, tu dưỡng bản thân, chăm sóc gia đình, nuôi các con nhỏ, sống có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật (sửa bản án sơ thẩm khách quan do có tình tiết giảm nhẹ mới).

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị N, Đào Nguyên K;

    Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.

    Các bị cáo Vũ Thị N, Đào Nguyên K đều phạm tội “Đánh bạc”.

    - Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    - Xử phạt: Bị cáo Đào Nguyên K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai và bị cáo Đào Nguyên K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  3. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND H. Long Thành (2);
  • - Chi cục THADS H. Long Thành;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Nam Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 118/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger