Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/DS-PT

Ngày 13-02-2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc

Các Thẩm phán:

  • Ông Đặng Văn Những
  • Ông Đinh Tiền Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 673/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 692/2024/QĐPT-DS ngày 26/12/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Hồng N, sinh năm 1972.
  2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1968.

Cùng địa chỉ: Số H, ấp C, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim D, sinh năm 1982. Địa chỉ: số D đường T, khu phố E, Phường B, thị xã K, tỉnh Long An.(Theo văn bản uỷ quyền ngày 14/11/2022).

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1944.
  2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968.
  3. Bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1979.
  4. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: số G, ấp C, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, N, khu phố D, Phường B, thị xã K, tỉnh Long An. (Theo văn bản uỷ quyền ngày 21/12/2021).

Người đại diện theo ủy quyền của bà B, ông M: ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1961; Địa chỉ: số E đường T, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 10/02/2025)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn K, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp C, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

  1. Ngân hàng TMCP S1, vắng mặt.

Địa chỉ trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ PGD K: Khu phố A, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.

  1. Ủy ban nhân dân thị xã K.

Địa chỉ trụ sở: Khu phố A, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Tuấn A - chức vụ Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã K. (Theo văn bản ủy quyền số 924/UBND-TNMT ngày 13/4/2024).

  1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1954 (đã chết ngày 18/01/2024).

Địa chỉ: Ấp C, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà S: Ông Đặng Văn B1, sinh năm 1977. Địa chỉ HKTT: Số E S, B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Số B đường L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông N, bà D, ông T, ông H1, ông K, ông M có mặt. Các đương sự còn lại vắng mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H và phần trình bày của ông bà, của người đại diện theo uỷ quyền trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Bà Lê Thị H và bà Nguyễn Thị B là chị em cùng mẹ (là bà Cai Thị N2), khác cha. Bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị S là chị em cùng cha, mẹ (bà Cai Thị N2, ông Nguyễn Tấn T1, đều đã chết). Nguồn gốc các thửa đất số 16, 17, 63, 14, 15, 65 cùng thuộc tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã B, thị xã K là của cha mẹ bà B, bà S.

Vợ chồng bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn C được cha mẹ cho phần đất nay có số thửa đất 14, 15, 65; bà Nguyễn Thị S được cho đất nay có số thửa là 16, 17, 63; các thửa đất giáp với nhau. Sau đó ông C, bà S kê khai đăng ký đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất số 61 của ông Lê Văn K là mua của ông Huỳnh Văn V.

Vào năm 2003 bà S chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H các thửa số 16, 17, 63. Nhưng đến năm 2009 mới ký hợp đồng, việc chuyển nhượng theo hồ sơ giấy tờ, ông N và bà H đã được cấp giấy vào năm 2009. Vì các bên không hiểu biết nên khi chuyển nhượng không đo đạc thực tế và không biết phần đất diện tích 111,1m² (vị trí tranh chấp 3 theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022) không được cấp vào giấy chứng nhận của bà S.

Trước đây phần đất vị trí số 3, 5, 6, 7 (theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022) là đường nước bà S sử dụng, sau khi vợ chồng ông N mua thì tiếp tục sử dụng để cấp, thoát nước. Riêng tại phần đất diện tích 85,9m² (vị trí 4) khi mua là đất trồng lúa, khoảng năm 2004 - 2005 ông N đào lấy đất để đắp nền sân nhà nên hiện trạng từ đó đến nay là mương nước, ông N nuôi cá, đồng thời sử dụng để cấp thoát nước. Ông N, bà H sử dụng đường mương từ khi mua đất phía bị đơn không có ý kiến phản đối, đến năm 2018 khi ông N vét mương, bị đơn sợ sạt lở qua đất của bị đơn nên không cho làm và các bên phát sinh tranh chấp. Bên bị đơn không sử dụng các vị trí này. Trong hồ sơ có thể hiện lời khai của người làm chứng là các ông bà Trần Thị M1, Trương Văn H2 làm chứng về việc bà S, ông N, bà H có sử dụng đường mương để cấp thoát nước.

Ngoài ra, vào năm 2013 đại diện Ủy ban nhân dân xã B hỗ trợ ông N và ông C cắm trụ ranh đất giữa các thửa số 16, 17, 65 với các thửa số 14, 15, cụ thể từ vị trí tranh chấp 5 đến vị trí tranh chấp 7 (theo mảnh trích đo) cắm 03 trụ bằng xi măng, hiện nay trụ vẫn còn. Từ vị trí tranh chấp 4 đến vị trí tranh chấp 3 có cắm 02 trụ nhưng hiện nay không còn do bên bà B nhổ 1 cọc, còn 1 cọc cắm bằng cây đã bị mất. Khi đó ông C còn sống có thống nhất và ký biên bản (hiện nay biên bản thất lạc).

Trước đó việc cha mẹ cho đất giữa bên bà S với gia đình ông C diện tích cụ thể như thế nào thì vợ chồng ông N không rõ nhưng khi mua đất và sử dụng là theo hiện trạng gồm cả phần đang tranh chấp.

Theo đơn khởi kiện ban đầu ông N, bà H tranh chấp với bị đơn phần đất tại các vị trí 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Tuy nhiên, sau đó ông N, bà H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ tranh chấp phần đất vị trí 3, 4 (tổng diện tích 111,1m² + 85,9m² ), cụ thể như sau: Yêu cầu xác định cho ông N và bà H được quyền sử dụng phần đất diện tích 111,1m² thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5, đất tại xã B, thị xã K (vị trí 3); buộc bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 và ông Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả cho ông N, bà H phần đất diện tích 111,1m² (vị trí 3) và phần đất diện tích 85,9m² thuộc thửa đất số 63 (vị trí 4) theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022 của Công ty TNHH Đ1. Yêu cầu xem xét huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp vào thửa số 61 cho ông Lê Văn K đối với phần đất vị trí 3 diện tích 111,1m² vì thực tế ông K không sử dụng phần này.

Ông N, bà H xác định không tranh chấp với bị đơn phần đất tại các vị trí 1, 2, 5, 6,7 (theo mảnh trích đo số 18-2022). Ngoài ra phần đất tại vị trí 1 thuộc số thửa 61 của ông Lê Văn K có hiện trạng là đường đi do gia đình ông N sử dụng để đi từ nhà ra lộ làng, vợ chồng ông N được ông K làm giấy viết tay cho đất vào năm 2010 để làm lối đi. Ngoài ra giữa ông N, ông K có Biên bản thỏa thuận ranh giới đất do UBND xã B lập ngày 08/10/2020 xác định ranh giữa đất của ông N, bà H (phần mà ông K đã cho) với thửa đất của ông K (phần còn lại), có thể hiện ranh là 02 trụ điện. Ông N, bà H xác định không tranh chấp với ông K phần vị trí 1. Sau này nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định. Tuy nhiên, do ông N và ông K thoả thuận được nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận này, cho ông N bà H được kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với vị trí 1 diện tích 99,8m².

Trước đây ông N, bà H có thế chấp các thửa đất số 16, 17, 63 cho Ngân hàng TMCP S1 để vay vốn, tuy nhiên sau khi Ngân hàng biết được đất có tranh chấp, đã yêu cầu thanh toán nợ và xoá thế chấp nên hiện nay các thửa đất trên không còn thế chấp Ngân hàng.

Bị đơn do người đại diện theo uỷ quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1938 (đã chết), ông C là chồng bà Nguyễn Thị B, có 03 người con chung là ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thanh Thanh N1. Ngoài ra ông C không có con riêng, không có con nuôi. Cha mẹ của ông C đều đã chết trước ông C.

Bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị S là chị em có cha mẹ là ông Nguyễn Tấn T1 và bà Cai Thị N2, sau khi ông T1 mất thì bà N2 kết hôn với ông Lê Văn T2 và có con chung là bà Lê Thị H. Do đó bà B với bà H là chị em cùng mẹ khác cha.

Nguồn gốc các thửa đất số 14, 15, 65, 16, 17, 63 cùng tờ bản đồ số 5 toạ lạc xã B, thị xã K của ông Nguyễn Tấn T1 và bà Cai Thị N2. Khoảng năm 1976 cha mẹ cho vợ chồng bà B ông C phần đất hiện nay là các thửa số 14, 15, 65 và sử dụng từ đó đến nay. Sau đó một thời gian cha mẹ cho bà S phần đất hiện nay là các thửa số 16, 17, 63; khoảng sau năm 1980 bà S mới về ở trên đất. Việc cha mẹ cho đất bằng lời nói và không đo đạc vì thời điểm đó chưa có giấy chứng nhận đất. Giữa đất của vợ chồng ông C với đất của bà S không có trụ ranh cũng không trồng cây làm ranh. Ông C và bà S đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc cấp giấy cấp qua kê khai có cán bộ xã xuống xác minh, theo bị đơn là có đo đạc nhưng không có bản vẽ cung cấp cho Toà.

Đất của bà B, ông C có một phần giáp với đất của ông Lê Văn K, trước đây ông K có cắm cọc ranh nhưng sau đó đã nhổ bỏ. Phần đất tranh chấp là đoạn mương thuộc đất của vợ chồng ông bà B được cha mẹ cho và đã sử dụng từ năm 1980 nhưng chưa đăng ký kê khai. Khi bà S về ở thì có sử dụng nhờ đường mương này, vì các bên là chị em nên không phản đối.

Ông N, bà H cho rằng đất vị trí 3 nhận chuyển nhượng của bà S nhưng bà S không được cấp giấy phần này. Thời điểm đó chưa có đường lộ làng cặp kênh C nên bà S đi lối bờ ruộng phía sau cặp đất của ông V (nay đã bán cho ông K) để ra đường. Quá trình sử dụng, bà S có hỏi mượn phần mương vị trí 3 để múc rộng thêm nhằm đậu phà mục đích bà S bán đất cho ông Năm B2 (không rõ họ tên địa chỉ) nhưng không được bà B đồng ý nên ông B2 không mua đất của bà S. Khoảng năm 2003-2004 ông N bà H mua đất của bà S nhưng không đo đạc đất, ông N và bà H có sử dụng nhờ đường mương vì các bên đều là anh em. Hiện nay vị trí tranh chấp 3 không còn sử dụng lấy nước, cách nay hơn 01 tháng ông M có trồng cây dừa, một số cây mía, chuối, tuy nhiên không có yêu cầu xem xét giá trị cây trồng này.

Vị trí tranh chấp 4 hiện trạng mương có nước vì trước đây ông N múc đất để đắp nền sân nhà ông N, vì sợ sạt lở qua nền đất nhà của bị đơn nên ông M có ý kiến phản đối.

Ông N trình bày năm 2013 cán bộ địa chính xã xuống cắm ranh đất là không đúng vì các bên không thống nhất được ranh, cũng không mời ông M chứng kiến trong khi ông M sinh sống ở ngay đó. Đề nghị Toà án căn cứ diện tích, ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết.

Theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022 còn thể hiện phần diện tích đất vị trí 1, 2 cấp vào số thửa 61 thì xác định không tranh chấp với ông K, không tranh chấp với ông N và bà H nên không nộp đơn khởi kiện trong vụ án này. Sau này có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác theo quy định. Các phần đất tại vị trí 5,6,7 ông N và bà H không còn khởi kiện thì bị đơn cũng không có ý kiến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn K trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa như sau:

Nguồn gốc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại xã B là của ông K mua của ông Huỳnh Văn V khoảng năm 1993 đến 1995 bằng giấy tay. Khi mua đất không đo đạc, ông V có chỉ ranh tới bờ mương (giáp vị trí 3 theo mảnh trích đo), theo ông K biết thì bờ mương là ranh giữa đất của ông V với đất của vợ chồng bà Cai Thị N2 (cha mẹ bà B). Sau khi mua đất, ông K kê khai và đã được cấp giấy chứ không đo đạc thực tế. Phần đất tranh chấp giữa ông N, bà H với bà B tại vị trí tranh chấp 3 được cấp vào số thửa 61 cho ông K, ông K chưa có tranh chấp trong vụ án này, tuy nhiên ông cũng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn đề nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông đối với phần đất này. Ngoài ra theo bản vẽ thì đất của ông K còn một phần diện tích 108,2m² phía ông M đang sử dụng.

Trước đây ông có làm giấy cho đất cho vợ chồng ông N một lối đi chiều ngang chừng 04m (vị trí 1) cặp mương đang tranh chấp, sau đó ông K có cắm cọc mục đích để gia đình ông N không đi lung tung lấn thêm qua đất của ông K chứ không phải là ranh đất với bên bà B, ông M.

Ông K xác định trong vụ án này không có tranh chấp quyền sử dụng đất với ông N, bà H; không tranh chấp với bà B, ông M, ông Đ, bà N1. Sau này có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S có người kế thừa quyền và nghĩa vụ là ông Đặng Văn B1 đề nghị vắng mặt và có ý kiến trình bày như sau:

Ông Đặng Văn B1 là con của bà Nguyễn Thị S (đã chết tháng 01/2024). Bà S có chồng là ông Đặng Văn C1, chết năm 1982 không làm giấy khai tử. Ngoài ra bà S không có người thừa kế nào khác. Bà S, bà B, bà H là chị em. Nguồn gốc các thửa đất mà ông N, bà H và gia đình bà B đang sử dụng tại ấp C, xã B là của ông bà ngoại ông B1 (Nguyễn Tấn T1, bà Cai Thị N2) để lại.

Khu đất của bà B giáp với đất của bà S, hai bên không có ranh giới hàng rào hay cắm mốc mà chỉ có một đường mương rộng hơn 01m do ông bà ngoại để lại (khi ông B1 còn nhỏ đã thấy có đường mương), ông bà ngoại cho đất và đường mương cho bà S sử dụng để lấy nước từ kênh C vào trồng lúa, ngoài ra khoảng trước năm 2000 ông B1 có thấy ông T3 (chồng bà G) bơm nước qua đây. Riêng bên bà B, ông C không thấy sử dụng mương.

Thời đó nền nhà của bà S cũng nằm ở vị trí nhà của ông N, bà H hiện nay, kênh C phía trước nhà ông N bà H chưa có đường nên bà S đi vòng theo bờ ruộng phía sau nhà bà B để lên đường. Sau này làm đường cặp kênh thì ông N, bà H mới xin đất của ông K để làm lối ra đường (lối đi này cặp đường mương đang tranh chấp).

Vào năm 1992 ông B1 lên Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng về thăm mẹ. Ông B1 có nghe mẹ kể dự định bán đất cho ông Năm B2 (không rõ họ tên, địa chỉ), ông Năm B2 chê đường nước nhỏ không có chỗ đậu xuồng nên bà S nhích mương rộng hơn nhưng ông Năm B2 không mua, lúc đó cũng không thấy phía bà B có ý kiến tranh chấp. Sau đó bà S bán khu đất cho vợ chồng ông N, bà H bao gồm cả đường mương đang tranh chấp, đường mương hiện nay so với lúc bà S chưa bán thì không thấy có thay đổi. Bà S bán toàn bộ khu đất còn diện tích bao nhiêu thì không rõ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã K vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến như sau: Theo yêu cầu khởi kiện hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 111,1m² loại đất lúa, thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5 do UBND huyện M cấp cho ông Lê Văn K năm 1997. Sau khi xem xét, UBND thị xã nhận thấy đây là yêu cầu khởi kiện hành vi hành chính của UBND huyện M trong việc cấp giấy chứng nhận cho ông K. Do đó, đề nghị Tòa án chuyển nội dung khởi kiện này đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An để giải quyết theo thẩm quyền.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S1 vắng mặt, không có ý kiên trình bày.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 có trách nhiệm trả cho ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H quyền sử dụng đất diện tích 85,9m² thuộc một phần thửa đất số 63 tờ bản đồ số 5 toạ lạc xã B, thị xã K. Phần đất có vị trí, tứ cận tại vị trí tranh chấp 4 theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022 của Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 23/6/2022.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H với bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 đối với phần đất diện tích 111,1m² thuộc một phần thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5 (vị trí tranh chấp 3 theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022).
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H phải chịu 19.966.000 đồng và đã nộp xong; bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu 15.434.000 đồng. Do ông N, bà H đã nộp tạm ứng nên bà B, ông M, bà N1, ông Đ có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 15.434.000 đồng cho ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H.

Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

4. Về án phí: Ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H được miễn nộp án phí. Ông N, bà H được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000513 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 có trách nhiệm liên đới nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.

Ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường nhận được đơn kháng của bà Nguyễn Thị B, kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đại diện nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phần tranh luận:

Người đại diện theo ủy quyền của bà B trình bày: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tạm ngưng phiên tòa để tiến hành đo đạc lại phần đất tranh chấp vì cho rằng diện tích đất của bị đơn theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chênh lệch lớn so với diện tích theo Mảnh trích đo của Công ty TNHH Đ2 vẽ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K ký duyệt. Bên bà B trình bày phần đất tranh chấp tại vị trí 4, diện tích 85,9m² nếu thuộc quyền sử dụng đất của ông N, sao ông N không xác định quyền sử dụng của mình và cố ý có hành vi dùng Kobe múc đất, khi bị bên bà B tranh chấp thì ngưng lại. Phần đất này là rạch thoát nước của bà B được cha mẹ cho từ năm 1975, khoảng 8-9 năm sau bà S mới được mẹ cho đất và sử dụng đất, bà B đã sử dụng cái rạch này trước khi bà S được cho đất. Bản án sơ thẩm nhận định bà S sử dụng đất nhưng không nói rõ sử dụng phần đất nào, diện tích bao nhiêu. Do đó, đề nghị xác định phần đất tại vị trí tranh chấp 4 là của bà B và không đồng ý trả phần đất này cho ông N bà H.

Bà D là người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà H trình bày:

Ông H1 đại diện cho bà B yêu cầu đo đạc là không cần thiết vì phần đất tranh chấp do các bên tự xác định ranh trên thực địa và được thể hiện rõ trong Mảnh trích đo, hơn nữa tại cấp sơ thẩm Thẩm phán đã hỏi có thắc mắc hoặc khiếu nại gì về Mảnh trích đo không thì bên bà B trả lời đồng ý với mảnh trích đo, không thắc mắc và cũng không khiếu nại gì. Do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu đo lại đất của bên bà B. Phần đất tranh chấp tại vị trí 4 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà S được cha mẹ cho, bà S đã sử dụng phần đất này từ khi được cho đất đến khi chuyển nhượng lại cho ông N bà H, ông N bà H tiếp tục sử dụng phần đất này cho đến khi tranh chấp. Bà B trình bày phần đất tranh chấp được cha mẹ cho nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đất của bà B và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh quá trình sử dụng đất của bà B. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo nằm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị B:

Về nguồn gốc đất: Các đương sự thống nhất nguồn gốc các thửa đất số 14, 15, 65, 16, 17, 63 cùng tờ bản đồ số 5 toạ lạc xã B, thị xã K là của ông Nguyễn Tấn T1 và bà Cai Thị N2 (cha mẹ bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị S). Sau đó vợ chồng bà N2 cho các con đất, cụ thể cho bà B và ông C các thửa số 14, 15, 65; cho bà S các thửa 16, 17, 63.

Thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5 của ông Lê Văn K nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn V. Ông C, bà S, ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông C, bà S, ông K được cấp giấy lần đầu qua kê khai, không đo đạc thực tế.

Vợ chồng ông C, bà B cùng các con sử dụng đất các thửa 14, 15, 65. Năm 2017 ông C chết, bà B và các con vẫn tiếp tục sử dụng đất và chưa làm thủ tục nhận thừa kế. Các thửa đất số 16, 17, 63 được bà Nguyễn Thị S sử dụng đến năm 2003 chuyển nhượng cho ông N và bà H, vợ chồng ông Nối tiếp T4 sử dụng các thửa đất này; tuy nhiên năm 2009 bà S mới ký hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho ông N, bà H; ông N và bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/7/2009.

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà H với bà S không qua đo đạc thực tế.

Xét phần đất diện tích 85,9m² tại vị trí tranh chấp 4. Xét thấy, phần đất diện tích 85,9m² thuộc một phần thửa đất số 63 được cấp giấy cho bà Nguyễn Thị S năm 1998. Năm 2009 bà S chuyển nhượng cho ông N, bà H toàn bộ thửa 63. Căn cứ lời khai người làm chứng bà Trần Thị M1, ông Trương Văn H2 xác nhận bà S có sử dụng, sau khi ông N và bà H nhận chuyển nhượng đất của bà S thì tiếp tục sử dụng. Thực tế ông N bà H đã tiến hành đào và lấy đất đắp nền sân nhà, sau khi lấy đất thì tiếp tục sử dụng cho đến khi phát sinh tranh chấp năm 2018, phía bị đơn cũng thừa nhận việc này. Bị đơn cho rằng đất của bị đơn cho bà S sử dụng nhờ, sau đó cho ông N, bà H sử dụng nhờ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông N và bà H yêu cầu bị đơn trả phần đất diện tích 85,9m² thuộc một phần thửa đất số 63 (vị trí 4) là có căn cứ.

Bà B kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C có ranh giới rõ ràng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xét xử theo trình tự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, bản án sơ thẩm đảm bảo thủ tục tố tụng.

Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà B đề nghị tạm ngưng phiên tòa yêu cầu đo đạc lại phần đất tranh chấp với lý do diện tích đất của bà B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chênh lệch lớn so với diện tích theo Mảnh trích đo của Công ty TNHH Đ2 vẽ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K ký duyệt. Xét thấy, yêu cầu tạm ngưng phiên tòa của bà B và yêu cầu đo đạc lại phần đất tranh chấp là không cần thiết nên Hội đồng xét xử không chấp nhận bởi những lý do sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B được cấp không đo đạc thực tế nên không thể căn cứ vào diện tích đất theo giấy được cấp để so sánh với diện tích theo Mảnh trích đo; Các đương sự thừa nhận Mảnh trích đo địa chính số 18-2022 do Công ty TNHH Đ2 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 23/6/2022 đã thể hiện đúng ranh đất do các bên chỉ ranh trên thực địa; Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà B đã đồng ý với M2 trích đo trên, không thắc, khiếu nại gì.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B đề nghị hủy bản án sơ thẩm:

[2.1] Xét về nguồn gốc các thửa đất và quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc các thửa đất số 14, 15, 65, 16, 17, 63 cùng tờ bản đồ số 5 toạ lạc xã B, thị xã K là của ông Nguyễn Tấn T1 và bà Cai Thị N2 (cha mẹ bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị S). Sau đó vợ chồng bà N2 cho các con đất, cụ thể cho bà B và ông C các thửa số 14, 15, 65; cho bà S các thửa 16, 17, 63. Nguồn gốc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5 của ông Lê Văn K nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn V. Ông C, bà S, ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ tài liệu do Toà án thu thập thì ông C, bà S, ông K được cấp giấy lần đầu qua kê khai không đo đạc thực tế. Vì vậy, không thể căn cứ vào ranh đất và diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm cơ sở giải quyết vụ án. Cần căn cứ vào quá trình sử dụng đất thực tế của các bên để xem xét.

[2.2] Đương sự thống nhất trình bày vợ chồng ông C, bà B cùng các con sử dụng đất các thửa 14, 15, 65. Năm 2017 ông C chết, bà B và các con vẫn tiếp tục sử dụng đất và chưa làm thủ tục nhận thừa kế. Các thửa đất số 16, 17, 63 được bà Nguyễn Thị S sử dụng đến năm 2003 chuyển nhượng cho ông N và bà H, vợ chồng ông N bà H tiếp tục sử dụng các thửa đất này. Tuy nhiên về mặt pháp lý thì đến năm 2009 bà S mới ký hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho ông N, bà H; ông N và bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/7/2009. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà S với ông N, bà H không qua đo đạc thực tế.

[2.3] Nguyên đơn trình bày năm 2013 các bên có thống nhất ranh đất, được Ủy ban nhân dân xã B hỗ trợ cắm cọc ranh, tuy nhiên không đưa ra được chứng cứ, phía bị đơn không thừa nhận. Qua xác minh của Toà án tại Ủy ban nhân dân xã B cũng không thu thập được tài liệu thể hiện việc này nên không có cơ sở xem xét.

[2.4] Về hiện trạng quản lý, sử dụng đất tại các vị trí tranh chấp:

[2.4.1] Đối với phần đất diện tích 111,1m² tại vị trí tranh chấp 3: Phần đất này theo ranh bản đồ địa chính thuộc thửa 61, tờ bản đồ số 5 của ông Lê Văn K chứ không thuộc một trong các thửa đất bà S chuyển nhượng ông N, bà H nên ông N và bà H cho rằng nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng từ bà S là không đủ cơ sở theo quy định Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 45 Luật Đất đai 2024 vì bà S không được cấp giấy chứng nhận phần đất này. Mặt khác, ông N, bà H nhận chuyển nhượng và quản lý sử dụng các thửa đất số 16, 17, 63 của bà S năm 2003 đến năm 2021 (được 18 năm) thì các bên tranh chấp tại Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường nên chưa đủ thời gian để được công nhận quyền sử dụng đất cho ông N bà H tại vị trí tranh chấp theo Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặt khác, cũng không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện giữa ông N, bà H, bà S với ông K và các bị đơn có thoả thuận về việc chuyển quyền sử dụng phần đất này cho ông N, bà H. Do đó, ông N, bà H yêu cầu xác định phần đất diện tích 111,1m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông bà và yêu cầu các bị đơn trả là không có căn cứ.

[2.4.2] Đối với phần đất diện tích 85,9m² tại vị trí tranh chấp 4:

Xét thấy, phần đất diện tích 85,9m² theo ranh bản đồ thuộc một phần thửa đất số 63 được cấp giấy cho bà Nguyễn Thị S năm 1998. Năm 2009 bà S chuyển nhượng cho ông N, bà H toàn bộ thửa 63. Căn cứ lời khai người làm chứng bà Trần Thị M1, ông Trương Văn H2 xác nhận bà S có sử dụng phần đất tranh chấp, sau khi ông N và bà H nhận chuyển nhượng đất của bà S thì tiếp tục sử dụng. Thực tế ông N bà H đã tiến hành đào và lấy đất đắp nền sân nhà, sau khi lấy đất thì tiếp tục sử dụng cho đến khi phát sinh tranh chấp năm 2018, phía bị đơn cũng thừa nhận việc này. Bị đơn bà B cho rằng phần đất này của bị đơn được cha mẹ và sau đó cho bà S sử dụng nhờ. Sau khi ông N bà H nhận chuyển nhượng đất của bà S thì cũng hỏi bà B sử dụng nhờ phần đất này. Lời trình bày của bà B không được ông N bà H và bà S thừa nhận, bà B không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày trên. Do đó, án sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp tại vị trí số 4 thuộc quyền sử dụng của ông N và bà H và chấp nhận yêu cầu này của ông N bà H là có căn cứ.

[2.5] Bà B kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm nhưng không nêu ra được các căn cứ để hủy án sơ. Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bà B sinh năm 1944 nên được miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 45 Luật Đất đai 2024; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 có trách nhiệm trả cho ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H quyền sử dụng đất diện tích 85,9m² thuộc một phần thửa đất số 63 tờ bản đồ số 5. Phần đất có vị trí, tứ cận tại vị trí tranh chấp 4 theo Mảnh trích đo địa chính số 18-2022 của Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 23/6/2022.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H với bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 đối với phần đất diện tích 111,1m² thuộc một phần thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5. Phần đất có vị trí, tứ cận tại vị trí tranh chấp 3 theo Mảnh trích đo địa chính số 18-2022 của Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 23/6/2022.
  4. Tất cả các phần đất tranh chấp nêu trên đều tọa lạc tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An. Vị trí, tứ cận theo mảnh trích đo địa chính số 18-2022 của Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 23/6/2022.
  5. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H phải chịu 19.966.000 đồng và đã nộp xong; bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu 15.434.000 đồng. Do ông N, bà H đã nộp tạm ứng nên bà B, ông M, bà N1, ông Đ có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 15.434.000 đồng cho ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H.
  6. Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hồng N, bà Lê Thị H được miễn nộp án phí. Ông N, bà H được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000513 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Thanh N1 có trách nhiệm liên đới nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thị xã Kiến Tường
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Phúc

Thành viên Hội đồng xét xử

Đặng Văn N3 – Đ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 118/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger