TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 02 – 2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Dòn
- Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1004/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1059/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 8/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Trọng N, sinh năm 1975; địa chỉ: D ấp I (ấp D cũ), xã P, huyện B, TP .. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1976; địa chỉ: D ấp I (ấp D cũ), xã P, huyện B, TP .. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ông Trương Trọng N trình bày:
Tôi và bà Trần Ngọc D tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 09/05/2024 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện B. Quá trình chung sống chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, nên tôi yêu cầu ly hôn với bà Trần Ngọc D.
Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Trọng N yêu cầu ly hôn với bà Trần Ngọc D;
- Về con chung: Có 02 con chung là Trương Nhựt C (sinh ngày 12/06/1996) và Trương Nhựt T (sinh ngày 06/11/2000) đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Phía bị đơn bà Trần Ngọc D đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập để lấy lời khai, triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án.
Tại phiên tòa:
Phía nguyên đơn không thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trương Trọng N khởi kiện xin ly hôn với bà Trần Ngọc D, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Trần Ngọc D có nơi cư trú tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Ông Trương Trọng N có mặt. Bị đơn bà Trần Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Ngọc D theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy ông Trương Trọng N và bà Trần Ngọc D có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 09/05/2024 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện B cấp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông Trương Trọng N và bà Trần Ngọc D là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Bà Trần Ngọc D đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để lấy lời khai; được triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến phản đối về những tình tiết do phía nguyên đơn cung cấp cũng như những chứng cứ do Tòa án thu thập, bà D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình được quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì những nội dung, tình tiết do phía nguyên đơn cung cấp được chấp nhận mà không phải chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu xin ly hôn, lời trình bày của ông N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của Ông Trương Trọng N: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N xác nhận trong quá trình chung sống giữa ông Trương Trọng N và bà Trần Ngọc D có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn.
[6] Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
- “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
- Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[7] Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình chung sống, ông Trương Trọng N và bà Trần Ngọc D có xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của ông Trương Trọng N là do bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, bà D thường xin tiền ông để đi trả nợ, mua sắm. Xét về mặt tình nghĩa vợ chồng thì hiện tại ông Trương Trọng N và bà Trần Ngọc D không còn thương yêu chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn sống chung, không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Ngọc D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự các phiên hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng bà D vẫn vắng mặt không có lý do, không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của ông N và bà D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc ông Trương Trọng N yêu cầu ly hôn với bà Trần Ngọc D là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
[8] Về con chung: Có 02 con chung là Trương Nhựt C (sinh ngày 12/06/1996) và Trương Nhựt T (sinh ngày 06/11/2000). Con chung đều đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[9] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trương Trọng N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Trọng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 57 và 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Trương Trọng N về việc yêu cầu ly hôn với bà Trần Ngọc D.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Trọng N được ly hôn với bà Trần Ngọc D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 09/5/2024 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, TP . cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Trọng N được ly hôn với bà Trần Ngọc D.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Trọng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 51367 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trương Trọng N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông Trương Trọng N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Ngọc D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: TAND TP . HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND H.Bình Chánh; - Chi cục THADS H.Bình Chánh; - UBND xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 118/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 118/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhựt - Diệp
