|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 118/2025/DS-PT Ngày: 12-02-2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Thẩm phán:
- Bà Huỳnh Thị Như Hà
- Bà Lê Thị Anh Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án dân sự Toà án nhân dân Thành phố H, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1093/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6837/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 606/2025/QĐ-PT ngày 15/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Đức H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Căn hộ I Khối A, Chung cư T, đường C, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố H. Địa chỉ hiện nay: Số A, Đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố H.
Bị đơn:
- Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1980.
- Bà Tạ Chí Huyền N, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Số F, Đường B, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Tạ Chí Huyền N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số E, Đường C, phường T, thành phố T, Thành phố H. (Giấy ủy quyền số công chứng 006987 quyển sô 70/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24 tháng 6 năm 2023 tại Văn phòng C1).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thành C, sinh năm 1977 – Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số B, đường N, phường H, Quận C, Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đào Thị Thu H1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A, Đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố H.
- Ông Đoàn Tương N2, sinh năm 1976.
- Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1986.
- Đoàn Nguyễn Trâm A, sinh năm 2014.
Cùng địa chỉ: Số D, Đường B, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố H.
Người kháng cáo:
- Ông Trần Đức H
- Ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2019, các bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Trần Đức H trình bày:
Về nguồn gốc đất, đất có nguồn gốc của ông Nguyễn Long Trường S khi mua thì tách thửa và làm thủ tục sang tên theo quy định. Lúc mua ông S tách thành 03 thửa để chuyển nhượng cho ba người gồm: Bà Huỳnh Thị Bích L, ông Trần Đức H, ông Huỳnh Công T. Khi nhận đất thì các bên nhận đủ và được cấp giấy chứng nhận riêng cho từng người. Ông T là người xây dựng nhà trước, khi xây dựng thì xây không đúng vị trí theo ranh giấy chứng nhận được cấp mà lấn sang đất ông H 4,6m². Ông T xác định chỉ tranh chấp với ông T bà N, do phía ông T bà N lấn sang 4,6m² đất của ông H theo Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 29/8/2019 và ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Ông H không tranh chấp gì với ông Nguyễn Long Trường S (chủ đất cũ) và bà Huỳnh Thị Bích L (chủ đất liền kề).
Ông H yêu cầu ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N tháo dỡ phần nhà xây dựng trái phép trên đất của ông H để trả lại phần diện tích đã lấn chiếm 4,6m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 31/7/2020 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/02/2015, số vào sổ CH03622. Về chi phí tháo dỡ thì phía ông T và bà N phải tự chịu. Ông H yêu cầu nhận đất, không đồng ý nhận tiền, ông H không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn - ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N do bà Tạ Chí H2 Ngân đại diện trình bày:
Ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đức H. Do khi ông T, bà N xây dựng nhà thì ông H biết và lúc đó còn đóng cọc phần ranh. Nhà ông T, bà N đã xây dựng xong năm 2015 và đã được hoàn công tháng 03/2016. Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 29/8/2019 và ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập là do phía nguyên đơn cung cấp, bị đơn không đồng ý bản đồ đo đạc này, bị đơn không có yêu cầu đo đạc lại. Việc nguyên đơn khởi kiện thì nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đào Thị Thu H1 trình bày: Bà H1 là vợ ông Trần Đức H, bà và ông H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03622 được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 14/02/2015. Bà có cùng yêu cầu với ông H.
Ông Đoàn Tương N2, bà Nguyễn Thị Kim D và Đoàn Nguyễn Trâm A có lời trình bày: Ông N2 và bà D có con tên Trâm A, gia đình ông bà chỉ là người thuê nhà ở tại địa chỉ số D, Đường B, phường L, thành phố T, Thành phố H, tài sản đang tranh chấp không liên quan gì đến gia đình ông bà, không có ý kiến gì trong vụ án và xin vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lê Thành C trình bày: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên đã được cấp đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn khi xây dựng nhà không có chủ định lấn đất của nguyên đơn và khi xây dựng xong nhà thì bị đơn cũng đã được cơ quan chức năng cập nhật hoàn công nhà. Xét về mặt pháp lý thì khẳng định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giá trị pháp lý cao hơn các bản vẽ hiện trạng vị trí được đo đạc. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét làm rõ các tọa độ ranh cổng nhận phần diện tích đất còn lại cho bị đơn, vì nếu phía bị đơn lấn đất của nguyên đơn thì diện tích đất của bị đơn phải tăng thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án sơ thẩm số 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H đã tuyên:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức H.
Buộc bị đơn ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm trả cho ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1 diện tích 4,6m² đất bằng giá trị là 340.432.987 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu, bốn trăm ba mươi hai nghìn, chín trăm tám mươi bảy đồng). Bị đơn ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N được quyền sử dụng đất vị trí ô (4) và (5) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.
Ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1, ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục cập nhật, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Đức H buộc bị đơn ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N tháo dỡ phần nhà xây dựng trên diện tích 4,6m² tại vị trí ô (4) và (5) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.
Ngoài bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự
Ngày 06/9/2024, bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có đơn kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm số 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố H tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 29/8/2019 và Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 31/7/2020 của Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì nguyên đơn không thiếu 4,6m², Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ đầy đủ, không xác định cụ thể ranh đất chính xác của nguyên đơn và bị đơn mà chỉ căn cứ vào Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 29/8/2019 và Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 31/7/2020 của Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H khẳng định nguyên đơn bị thiếu 4,6m² và tuyên buộc bị đơn bồi thường tiền cho nguyên đơn là không khách quan, phiến diện gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của bị đơn.
Ngày 11/9/2024, nguyên đơn ông Trần Đức H có đơn kháng cáo một phần quyết định của bản án sơ thẩm số 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H với lý do : Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng việc tháo dỡ phần nhà trên phần đất bị đơn lấn chiếm có giá trị lớn hơn phần tiền được yêu cầu trả cho nguyên đơn là chưa đúng do nhà bị đơn xây là nhà cấp 3 nhưng mức độ xây dựng tương đương hoặc hơn nhà cấp 4, cụ thể tường cao hơn tiêu chuẩn nhà cấp 4, phần gác lửng chỉ làm bằng xà gồ thép và gác gỗ không phải sàn kiên cố, hiện nay trên thị trường mức độ xây dựng như nhà của bị đơn chỉ khoảng 4 triệu đồng/m2. Giá trị toàn bộ diện tích xây dựng khoảng 272 triệu đồng trong khi phần đền bù cho nguyên đơn là khoảng 340 triệu đồng. Ngoài ra, xác định thiệt hại cho nguyên đơn chỉ căn cứ vào giá trị định giá tổng thể lô đất sau đó tính ra giá trị m² bị lấn chiếm là chưa chính xác do lô đất của nguyên đơn là đất mặt tiền đường nhựa lớn, thực tế chiều ngang mặt tiền bị lấn 0,4m/4,4m tương đương 10% làm ảnh hưởng đến tổng giá trị và thẩm mỹ của lô đất lớn hơn nhiều. Nguyên đơn còn bị thiệt hại về chi phí cơ hội, vì từ năm 2018 đến nay xảy ra tranh chấp nên nguyên đơn không bán được. Nguyên đơn chỉ yêu cầu được nhận lại phần đất bị lấn chiếm chứ không nhận đền bù phần tiền, bị đơn cũng có ý kiến nếu Tòa án xác định bị đơn lấn đất thì bị đơn trả lại đất, do đó yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên buộc bị đơn tháo dỡ phần xây dựng trên phần đất lấn chiếm trả lại phần đất bị lấn chiếm cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự tự nguyện thỏa thuận thống nhất giải quyết vụ án như sau:
Bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đức H, bà Đào Thị Thu H1 số tiền 400.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất diện tích 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589, tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Thời hạn thanh toán là 60 ngày, hạn cuối là ngày 13/4/2025.
Ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N được quyền tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật phần diện tích đất 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834255, số vào sổ cấp GCN: CH03623 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật.
Ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật giảm phần diện tích đất 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834252, số vào sổ cấp GCN: CH03622 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật
Về án phí dân sự, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật
Về chi phí tố tụng, các đương sự đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Xét thấy tại phiên tòa các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 và Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn còn trong thời hạn kháng cáo, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện nộp tạm ứng theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Xét thấy, tại phiên Tòa các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 300, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đức H, bà Đào Thị Thu H1 số tiền 400.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất diện tích 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589, tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Thời hạn thanh toán là 60 ngày, hạn cuối là ngày 13/4/2025.
Ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N được quyền tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật phần diện tích đất 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834255, số vào sổ cấp GCN: CH03623 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật.
Ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật giảm phần diện tích đất 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834252, số vào sổ cấp GCN: CH03622 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
H3 lại cho ông Trần Đức H số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0056232 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T (nay là thành phố T), Thành phố H lập.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng và chi phí thẩm định giá lần 01 là 13.000.000 đồng, tổng cộng 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Đức H. Đối với chi phí định giá lại lần 02 nguyên đơn ông Trần Đức H tự nguyện chịu và đã nộp xong.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa bản án sơ thẩm nên nguyên đơn ông Trần Đức H và bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
H3 lại cho ông Trần Đức H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042395 ngày 19/9/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập.
H3 lại cho ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042382 ngày 18/9/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 228, Điều 298, Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Sửa Bản án sơ thẩm số: 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
2.1. Bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đức H, bà Đào Thị Thu H1 số tiền 400.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất diện tích 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589, tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Thời hạn thanh toán là 60 ngày, hạn cuối là ngày 13/4/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1 cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
2.2. Ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N được quyền tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật phần diện tích đất 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834255, số vào sổ cấp GCN: CH03623 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật.
Ông Trần Đức H và bà Đào Thị Thu H1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cập nhật biến động đối với phần diện tích đất còn lại sau khi giảm 4,6m² thuộc một phần thửa đất số 589 tờ bản đồ số 34, bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu 2004), tại vị trí số (4), (5) Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 31/7/2020 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 834252, số vào sổ cấp GCN: CH03622 ngày 14/02/2015 theo quy định pháp luật.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
H3 lại cho ông Trần Đức H số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0056232 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T (nay là thành phố T), Thành phố H lập.
2.4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng và chi phí thẩm định giá lần 01 là 13.000.000 đồng, tổng cộng 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) ông Huỳnh Công T, bà Tạ Chí Huyền N có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Đức H. Đối với chi phí định giá lại lần 02 nguyên đơn ông Trần Đức H tự nguyện chịu và đã nộp xong.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
H3 lại cho ông Trần Đức H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042395 ngày 19/9/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập.
H3 lại cho ông Huỳnh Công T và bà Tạ Chí Huyền N số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042382 ngày 18/9/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |
Bản án số 118/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 118/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án sơ thẩm số: 4016/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H
