Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày 09-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh .

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thu Huyền.

Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B. Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2024/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Quang H, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 9/12; con ông : Đào Văn V, sinh năm 1936; con bà: Nguyễn Thị K, sinh năm 1945 đều ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vợ: Vũ Thị N, sinh năm 1969, ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; bị cáo có 01 con, sinh năm 2002; tiền án; Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

  • + Ngày 06/10/2006, Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội: Giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan Nhà nước.
  • + Ngày 26/10/2009 Toà án huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • + Ngày 17/7/2012 Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản;
  • + Ngày 01/4/2014, Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản;

Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

  • + Anh Chu Văn Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Anh Nông Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (vắng mặt).

- Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:

  • + Anh Đào Xuân P, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  • + Anh Diêm Văn H1, sinh năm 1997 ở tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Thân Quang T1, sinh năm 2002; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân, nên Đào Quang H, sinh năm 1980 ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang nảy sinh ý định đi đến khu Công nghiệp V thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để tìm xem có ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp đem đi bán lấy tiền. Khoảng 7 giờ ngày 07/8/2024, H mang theo 08 đoạn dây điện, 05 chiếc vam phá khoá bằng kim loại rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 29N1- 013.40 đi đến khu công nghiệp V. Khoảng 9 giờ 50 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đi qua cổng xưởng D1 Công ty TNHH L thuộc địa phận xã N, huyện Y. Khi đi vào đường nội bộ của khu công nghiệp thuộc địa phận thôn N, xã N, huyện Y thì H thấy có nhiều xe mô tô dựng thành hàng ở sát mép đường nội bộ, quan sát thấy không có người trông coi nên H dừng xe lại, để xe của mình vào hàng xe rồi đi đến vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu trắng đen, bạc biển kiểm soát 98K1- 196.83 của anh Chu Văn Đ, sinh năm 1993 ở thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang dùng vam phá khoá đem theo chọc vào ổ khoá điện, rồi dùng hai tay vặn theo chiều kim đồng hồ thì mở được khoá. H ngồi lên xe rồi điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được đi về hướng thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi H lấy chiếc điện thoại lắp sim số 0972.925.xxx gọi đến số điện thoại 0856.651.xxx của một người tên “Thu” (Hiệp lưu trên danh bạ điện thoại là Thu Thái B) để liên hệ bán chiếc xe mô tô Hiệp vừa trộm cắp được, thì T2 đồng ý mua và hẹn gặp nhau tại khu vực cầu N để xem xe. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đến cửa hàng Chà Chanh của anh Thân Quang T1, sinh năm 2002 ở tổ dân phố G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang rửa xe và gửi chiếc xe mô tô trộm cắp được ở cửa hàng của anh T1 rồi thuê xe Taxi quay lại để lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29N1-013.40 của H. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, H đến nơi lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29N1-013.40 rồi điều khiển xe đi lòng vòng trong khu Công nghiệp L để tiếp tục tìm kiếm xem có ai để xe mô tô sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến cổng ra vào xưởng E của Công ty L thuộc thôn N, xã N, huyện Y thì H thấy ở lề đường gần cổng này có nhiều xe mô tô dựng thành hàng, quan sát thấy không có người trông coi, nên H đi đến đỗ xe của H ở cạnh đó rồi đi đến vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 12L1- 320.92 của anh Nông Văn T, sinh năm 1991 ở thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn dùng vam phá khoá rồi điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được đi đến khu vực cầu N để bán chiếc xe cho T2. Khoảng 2 phút sau thì T2 đi xe khách đến gặp H rồi kiểm tra chiếc xe mô tô H vừa trộm cắp được và thoả thuận mua chiếc xe với giá 5.000.000 đồng, Hiệp đồng Ý bán, nhận tiền xong H bảo với T2 là còn 01 chiếc xe nữa bao giờ sang lấy được thì T2 trả lời để đem chiếc xe vừa mua về rồi quay lại mua chiếc xe thứ 2 sau. Sau đó, T2 điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12L1- 320.92 đi về hướng tỉnh Bắc Ninh, còn H thuê xe ôm quay lại để lấy chiếc xe mô tô của H. Sau khi quay lại, lấy xe xong, H điều khiển xe đi đến cửa hàng X ở tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang do chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1995 quản lý để rửa xe và gửi chiếc xe của H ở cửa hàng của chị H2 rồi đi bộ đến cửa hàng rửa xe của anh T1 lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 196.83 trộm cắp được trước đó đi đến cầu N để bán cho T2. Khoảng 16 giờ cùng ngày T2 đến nơi, xem xe rồi trả cho H 4.500.000đ, sau khi thanh toán xong, T2 điều khiển chiếc xe mô tô này đi về hướng tỉnh Bắc Ninh còn H quay lại cửa hàng xe máy Quốc Chính lấy xe mô tô của H gửi ở đó rồi đi về nhà. Toàn bộ số tiền có được H đã chi tiêu cá nhân hết 3.100.000 đồng.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, anh Chu Văn Đ và anh Nông Văn T đã làm đơn trình báo Đồn Công an Q1, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 12/8/2024, Đào Quang H biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên đã đến Đồn Công an Q1 đầu thú và giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HON DA Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, biển kiểm soát 29N1- 013.40; 08 đoạn dây điện, kích thước dài khoảng 05cm mỗi đoạn, có vỏ ngoài màu xanh, phần lõi bên trong là kim loại màu vàng đồng; 05 chiếc vam bằng kim loại, một đầu được mài nhọn, dẹt màu trắng, một đầu hình trụ lục giác; 01 chiếc cà lê bằng kim loại màu trắng sáng, có 02 đầu một đầu vòng miệng, một đầu hở loại số 8; 02 chiếc chìa khóa xe mô tô, có phần chìa bằng kim loại, phần chuôi nhựa màu đen bên trên in chữ Honda; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu trắng xám, số Imei: 353220821226484; 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, có phần lưỡi chìa; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai; 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu; 01 chiếc áo mưa bằng nhựa, bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng xám; 01 chiếc ví da màu nâu, bên trong có 6.400.000đ. Cùng ngày, Đồn Công an Q1 đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu, vật chứng và đối tượng cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Đào Quang H khai: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29N1- 013.40 là xe Hiệp mua lại của người đàn ông tên T2 mà H đã bán 02 chiếc xe trộm cắp, khi mua xe không có giấy tờ. Chiếc xe mô tô này H sử dụng để đi trộm cắp tài sản; 05 chiếc vam bằng kim loại dùng để phá khoá xe mô tô khi trộm cắp tài sản; 08 đoạn dây điện dùng để dự phòng trong trường hợp không mở được ổ khoá điện thì H dùng đoạn dây điện để đấu điện xe; 01 chiếc cà lê bằng kim loại dùng để phục vụ cho việc trộm cắp tài sản; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai và 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu là trang phục H mặc khi trộm cắp tài sản ngày 07/8/2024; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 dùng để liên lạc với người đàn ông tên T2 khi đem xe đi tiêu thụ; 6.400.000 đồng là số tiền còn lại sau khi bán 02 chiếc xe mô tô trộm cắp được; 02 chiếc chìa khóa xe mô tô là H nhặt được; 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen và 01 chiếc áo mưa là tài sản cá nhân của H không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 15/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang để yêu cầu định giá tài sản, do thành viên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y điều chuyển công tác, chưa kiện toàn.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 58, 59 cùng ngày 20/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Bắc Giang kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-196.83 có giá trị là 6.800.000đ; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12L1- 320.92 có giá trị là 15.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của 02 chiếc xe mô tô mà Đào Quang H trộm cắp ngày 07/8/2024 là 22.100.000₫.

Đối với người đàn ông tên là T2 sử dụng số 0856651116 có hành vi mua 02 chiếc xe mô tô của H. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin số thuê bao 0856651116 thì người đăng ký sử dụng là Đào Xuân M, sinh năm 1995 ở tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay, M không có mặt ở địa phương nên ngày 06/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý theo quy định.

Đối với anh Thân Quang T1, chị Hoàng Thị H2 có hành vi cho H gửi xe mô tô nhưng anh T1 và chị T2 không biết việc H thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 196.83 đăng ký chủ sở hữu là của anh Diêm Văn H1, sinh năm 1997 ở tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Chiếc xe này anh H1 cho anh Đ mượn để đi lại, đến ngày 07/8/2024 thì bị trộm cắp; Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29N1- 013.40 của H, cơ quan điều tra đã tra cứu xác định đăng ký chủ sở hữu là anh Đào Xuân P, sinh năm 1974 ở thôn X, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội. Chiếc xe có đặc điểm nhãn hiệu HON DA, số loại Super Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, dung tích xi lanh 97cm3, biển kiểm soát 29N1- 013.40. Chiếc xe này anh P đã bán cho người buôn xe từ năm 2018 sau đó H đã mua lại và sử dụng đi trộm cắp tài sản (cơ quan điều tra không thũ giữ được đăng ký xe).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Chu Văn Đ yêu cầu Đào Quang H bồi thường 6.800.000đ; anh Nông Văn T yêu cầu Đào Quang H bồi thường 15.300.000 đồng; anh Diêm Văn H1 yêu cầu anh Chu Văn Đ bồi thường 6.800.000đ. Đến nay, H chưa bồi thường cho người bị hại.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HON DA, số loại Super Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, dung tích xi lanh 97cm3, biển kiểm soát 29N1- 013.40; 08 đoạn dây điện, mỗi đoạn có kích thước dài khoảng 05cm; 05 chiếc vam bằng kim loại, một đầu được mài nhọn, dẹt màu trắng, một đầu hình trụ lục giác bên ngoài có màu nâu; 01 chiếc cà lê bằng kim loại màu trắng sáng, có 02 đầu, một đầu vòng miệng, một đầu hở loại số 8; 02 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen bên trên in chữ Honda; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu trắng xám, máy đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, có phần lưỡi chìa; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai; 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu; 01 chiếc ao mưa bằng nhựa, bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng xám; 01 chiếc ví da màu nâu; 6.400.000 đồng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Đào Quang H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 126/CT-VKSYD ngày 28/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Đào Quang H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đào Quang H khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Về trách nhiệm dân sự bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại là anh Chu Văn Đ và anh Nông Văn T như yêu cầu của anh Đ, anh T.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Quang H từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/8/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự:
    • + Buộc bị cáo Đào Quang H phải bồi thường cho anh Chu Văn Đ 3.600.000đ; anh Nông Văn T 12.100.000 đồng.
    • + Anh Chu Văn Đ được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng; anh Nông Văn T được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 08 đoạn dây điện, mỗi đoạn có kích thước dài khoảng 05cm; 05 chiếc vam bằng kim loại, một đầu được mài nhọn, dẹt màu trắng, một đầu hình trụ lục giác bên ngoài có màu nâu; 01 chiếc cà lê bằng kim loại màu trắng sáng, có 02 đầu, một đầu vòng miệng, một đầu hở loại số 8; 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, có phần lưỡi chìa; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai; 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu; 01 chiếc ao mưa bằng nhựa, bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng xám; 01 chiếc ví da màu nâu
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HON DA, số loại Super Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, dung tích xi lanh 97cm3, biển kiểm soát 29N1- 013.40, kèm theo 02 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen bên trên in chữ Honda; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu trắng xám, máy đã qua sử dụng
  • -Về án phí: Bị cáo Đào Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 785.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ

[2]. Xét về tội danh:

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 50 phút ngày 07/8/2024, tại khu vực đường nội bộ của khu công nghiệp T Công ty TNHH L thuộc địa phận thôn N, xã N, huyện Y. Đào Quang H, sinh năm 1980 ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 196.83, trị giá 6.800.000₫ của anh Chu Văn Đ, sinh năm 1993 ở thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang rồi đem đi bán cho một người đàn ông tên T2 được 4.500.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, H đi đến đoạn đường gần cổng ra vào xưởng E của Công ty L thuộc địa phận thôn N, xã N, huyện Y trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12L1- 320.92, trị giá 15.300.000 đồng của anh Nông Văn T, sinh năm 1991 ở thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn rồi đem đi bán cho người đàn ông tên T2 được 5.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này H đã chi tiêu cá nhân hết 3.100.000 đồng, còn lại 6.400.000 đồng thì bị cơ quan điều tra thu giữ.

Đào Quang H đã 02 lần trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản trộm cắp là 22.100.000 đồng. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.

Bị cáo Đào Quang H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi được quy định tại Bộ luật hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ hưởng lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đào Quang H phạm tội : “Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 126/CT-VKSYD ngày 28/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Đào Quang H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 06/10/2006, Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt Đào Quang H 03 năm tù về tội: Giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan Nhà nước; Ngày 26/10/2009 Toà án huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt Đào Q Hiệp18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/7/2012 Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Quang H 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 01/4/2014, Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Quang H 03 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo trộm cắp 02 lần, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, khai báo thành khẩn, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần vị xử lý hình sự về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Chu Văn Đ yêu cầu Đào Quang H bồi thường 6.800.000đ; anh Nông Văn T yêu cầu Đào Quang H bồi thường 15.300.000 đồng; Xét thấy, yêu cầu của các bị hại là chính đáng, phía bị cáo cũng nhất trí việc bồi thường. Do vậy, cần buộc bị cáo Đào Quang H bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại yêu cầu. Tuy nhiên do bị cáo bị thu giữ số tiền 6.400.000 đồng là tiền bị cáo trộm cắp được nên số tiền này sẽ được đối trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh T và anh H. HĐXX thấy số tiền 6.400.000 đồng cần đối trừ cho hai bị hại trên cơ sở chia đôi, cụ thể đối trừ trả cho anh Chu Văn Đ 3.200.000 đồng, đối trừ trả cho anh Nông Văn T 3.200.000 đồng là phù hợp. Vì vậy, anh Chu Văn Đ được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, bị cáo H còn phải bồi thường cho anh Chu Văn Đ số tiền là 3.600.000 đồng; anh Nông Văn T được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, bị cáo H còn phải bồi thường cho anh Nông Văn T số tiền 12.100.000 đồng.

Xét yêu cầu của anh Diêm Văn H1 yêu cầu anh Chu Văn Đ bồi thường 6.800.000đ thì thấy: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 196.83 đăng ký chủ sở hữu là của anh Diêm Văn H1, sinh năm 1997 ở tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Chiếc xe này anh H1 cho anh Đ mượn để đi lại, đến ngày 07/8/2024 thì bị trộm cắp. Do đó, yêu cầu này của anh H1 là có căn cứ, cần buộc anh Chu Văn Đ bồi thường cho anh Diêm Văn H1 6.800.000 đồng.

[7]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HON DA, số loại Super Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, dung tích xi lanh 97cm3, biển kiểm soát 29N1- 013.40, kèm theo 02 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen bên trên in chữ Honda là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu trắng xám, máy đã qua sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 6.400.000 đồng là tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp sẽ được dùng để đối trừ vào số tiền bị cáo phải trả bồi thường cho bị hại. HĐXX thấy số tiền 6.400.000 đồng cần đối trừ cho bị hại trên cơ sở chia đôi, cụ thể đối trừ trả cho anh Chu Văn Đ 3.200.000 đồng, đối trừ trả cho anh Nông Văn T 3.200.000 đồng là phù hợp. Do vậy, anh Chu Văn Đ được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng; anh Nông Văn T được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.

- Đối với 08 đoạn dây điện, mỗi đoạn có kích thước dài khoảng 05cm; 05 chiếc vam bằng kim loại, một đầu được mài nhọn, dẹt màu trắng, một đầu hình trụ lục giác bên ngoài có màu nâu; 01 chiếc cà lê bằng kim loại màu trắng sáng, có 02 đầu, một đầu vòng miệng, một đầu hở loại số 8 là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, có phần lưỡi chìa; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai; 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu; 01 chiếc ao mưa bằng nhựa, bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng xám; 01 chiếc ví da màu nâu không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy

[8]. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên là T2 sử dụng số 0856651116 có hành vi mua 02 chiếc xe mô tô của H. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin số thuê bao 0856651116 thì người đăng ký sử dụng là Đào Xuân M, sinh năm 1995 ở tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay, M không có mặt ở địa phương nên ngày 06/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý theo quy định.

Đối với anh Thân Quang T1, chị Hoàng Thị H2 có hành vi cho H gửi xe mô tô nhưng anh T1 và chị T2 không biết việc H thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đào Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị hại anh Chu Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Quang H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/8/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự:

  • - Buộc bị cáo Đào Quang H phải bồi thường cho anh Chu Văn Đ 3.600.000đ; anh Nông Văn T 12.100.000 đồng.
  • - Anh Chu Văn Đ được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng; anh Nông Văn T được nhận số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (Trong tổng số tiền 6.400.000 đồng là vật chứng của vụ án bị thu giữ)
  • - Buộc bị hại anh Chu Văn Đ phải bồi thường cho anh Diêm Văn H1 số tiền 6.800.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 08 đoạn dây điện, mỗi đoạn có kích thước dài khoảng 05cm; 05 chiếc vam bằng kim loại, một đầu được mài nhọn, dẹt màu trắng, một đầu hình trụ lục giác bên ngoài có màu nâu; 01 chiếc cà lê bằng kim loại màu trắng sáng, có 02 đầu, một đầu vòng miệng, một đầu hở loại số 8; 01 chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, có phần lưỡi chìa; 01 chiếc mũ vải màu đen, có phần lưỡi chai; 01 chiếc áo chống nắng màu trắng xám, loại dài tay, có mũ chùm đầu; 01 chiếc ao mưa bằng nhựa, bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng xám; 01 chiếc ví da màu nâu
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HON DA, số loại Super Dream, màu sơn nâu, số máy HA08E1399071, số khung RLHHA0803AY099016, dung tích xi lanh 97cm3, biển kiểm soát 29N1- 013.40, kèm theo 02 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen bên trên in chữ Honda; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu trắng xám, máy đã qua sử dụng.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTDS; Điều 26, Điều 27; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đào Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 785.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị hại anh Chu Văn Đ phải chịu 340.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật

6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an huyện Yên Dũng;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Quang H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger