Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 118/2024/KDTM-ST

Ngày: 03/12/2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng thuê kho.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thuần Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tống Thị Kim Điền;
  2. Bà Trương Thị Đạt.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03/12/2024 Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 57/2024/KTST ngày 17/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê kho” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 743/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20/11/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH K; địa chỉ trụ sở: Số A đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh C, sinh năm 1991, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 01/2024/SGL-GUQ ngày 09/5/2024). (có mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần I (tên cũ Công ty Cổ phần I); ngày 20/06/2023 thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thay đổi tên công ty từ Công ty Cổ phần I thành Công ty Cổ phần I1); địa chỉ trụ sở: Số C, Lầu C, Khối tháp V5 – V6 Khu chung cư kết hợp thương mại, Văn phòng lô V (S, khu S), Số B đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Tùng U, sinh năm 1995; hoặc bà Đinh Thị Hoài T, sinh năm 1999; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 396/2024/GUQ.INDIN ngày 07/11/2024). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, Văn bản xác định lại nội dung, yêu cầu khởi kiện ngày 25/9/2024; các ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Đặng Minh C trình bày và yêu cầu khởi kiện như sau:

Ngày 02/01/2022, Công ty TNHH K (sau đây gọi tắt là Công ty K hoặc Bên cho thuê) và Công ty Cổ phần I (Bên thuê hoặc Công ty I) ký kết Hợp đồng thuê kho bãi và dịch vụ quản lý hàng hoá (Hợp đồng số 034 – HDDV/SGL – NOVA F&B – sau đây gọi tắt là hợp đồng) với nội dung Công ty K cho Công ty I thuê kho tại địa chỉ số A L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để chứa hàng hoá, lưu kho, quản lý hàng hoá, đóng gói, vận chuyển (theo yêu cầu nếu có). Với giá thuê (chi phí thuê kho) theo quy định tại Phụ lục Hợp đồng 01. Ngày 01/4/2022 các bên ký Phụ lục Hợp đồng 02 bổ sung bảng giá dịch vụ kho bổ sung, bảng giá dịch vụ vận chuyển. Ngày 01/6/2022 các bên ký Phụ lục Hợp đồng 03 thay đổi, bổ sung thông tin (tên gọi, người đại diện theo pháp luật) của bên thuê và các nội dung khác. Định kỳ theo hợp đồng, bên cho thuê căn cứ theo nội dung đã thực hiện, đối soát, lập bảng kê chi tiết các chi phí trong kỳ lưu kho một tháng và gởi hóa đơn tại chính, chứng từ liên quan cho bên thuê. Theo hợp đồng, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hóa đơn, chứng từ đối soát chi phí, bên thuê không có ý kiến phản hồi thì xem như đồng ý với hóa đơn chứng từ đó.

Qua trình thực hiện hợp đồng, do bên thuê chậm thanh toán nên phát sinh tranh chấp; Bên cho thuê có nhiều văn bản nhắc, yêu cầu thanh toán đúng hạn nhưng Bên thuê không khắc phục, không thực hiện thanh toán đúng thời hạn. Trong các ngày 20, 26, 28/10/2022, Bên cho thuê có nhiều văn bản nhắc, yêu cầu bên thuê thanh toán chi phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa; ngày 04/11/2022 Bên cho thuê tiếp tục có văn bản đề nghị thanh toán lần 3 với phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa chưa thanh toán hết của các tháng 6, 7, 8, 9 năm 2022. Tính đến ngày 31/12/2022, bên thuê chậm thanh toán cho bên cho thuê 26 hóa đơn với số tiền phải thanh toán (tổng cộng là 3.220.394.531 đồng). Theo hợp đồng, bên thuê phải chịu phạt do chậm thanh toán tương ứng với số tiền chậm thanh toán theo điểm i khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng là: (3.220.394.531đ x 0,1 x số ngày chậm thanh toán tương ứng từng hóa đơn = 470.485.666đ)

Ngày 28/12/2022, bên cho thuê có văn bản gởi bên thuê với nội dung đề nghị thanh toán vụ thanh lý hợp đồng, tiến hành kiểm kê hàng hoá, thanh toán, thời hạn thực hiện dự kiến hoàn tất vào ngày 30/12/2022. Sau khi nhận được văn bản, nhân viên hai bên có gặp nhau trực tiếp trao đổi để thống nhất các phương án (không lập thành văn bản) và các email trao đổi. Sau ngày 02/01/2023, hợp đồng hết hạn, các bên không gia hạn; tuy nhiên hàng hóa bên thuê tiếp tục lưu trong kho, bên cho thuê tiếp tục thực hiện các yêu cầu, dịch vụ quản lý hàng hóa tại kho theo yêu cầu bên thuê. Từ tháng 01/2023 đến tháng 06/2024 hàng hóa bên thuê vẫn được bên cho thuê bảo quản đúng hợp đồng (mặc dù hợp đồng đã hết hiệu lực, các bên không gia hạn, chưa thanh lý hợp đồng); trong thời gian này, bên cho thuê vẫn thực hiện các dịch vụ quản lý, vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu bên thuê. Cụ thể: Tính từ ngày 02/01/2023 đến ngày 15/11/2023 bên cho thuê đã thực hiện nhiều yêu cầu, dịch vụ liên quan đến số hàng gởi tại kho và phát sinh số tiền phải thanh toán; bên cho thuê đã phát hành cho bên thuê 14 hóa đơn chứng từ.

Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2024; Công ty K khởi kiện Công ty I yêu cầu Tòa án:

  • Buộc Công ty I phải thanh toán cho Công ty K số tiền 1.225.993.696 đồng. Trong đó: Nợ chi phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa năm 2022 chưa thanh toán là 100.978.504 đồng; phạt do chậm thanh toán 460.027.145 đồng; chi phí thuê kho phát sinh từ ngày 02/01/2023 đến hết tháng 02/2024 là 664.988.046 đồng. Yêu cầu thanh toán làm 01 lần.
  • Buộc Công ty Cổ phần I1 phải thanh toán số tiền 20.565.987 đồng; trong đó: Nợ gốc 10.782.599 đồng; phạt chậm thanh toán 9.783.388 đồng.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân Quận 7, tháng 06 năm 2024, công ty I đã thanh toán tiếp cho Công ty K số tiền nợ chi phí thuê kho năm 2022 còn lại là 100.978.504 đồng.

Ngày 25/9/2024 nguyên đơn Công ty K có Văn bản xác định lại nội dung, yêu cầu khởi kiện; yêu cầu Tòa án:

  • Buộc Công ty I phải chịu số tiền phạt do chậm thanh toán là 270.544.028 đồng, trong đó: Số tiền phạt do chậm thanh toán trong năm 2022 là (3.220.394.531đ x 8% = 257.631.562 đồng); số tiền phạt do chậm thanh toán năm 2023 là (161.405.818đ x 8% = 12.912.456 đồng).
  • Buộc Công ty I phải thanh toán phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hoá từ tháng 01/2023 đến hết tháng 02/2024 với số tiền là 600.000.000 đồng.

Đối với Công ty Cổ phần I1, nguyên đơn Công ty K xác định không liên quan đến vụ án này; trong đơn khởi kiện ngày 09/5/2024 nguyên đơn xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng; nguyên đơn Công ty K không có yêu cầu gì đối với Công ty I1; đề nghị Tòa án không đưa Công ty Cổ phần I1 tham gia tố tụng trong vụ án này.

Tại Bản tự khai đề ngày 13/09/2024, các lời trình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn công ty I trình bày:

Ngày 02/01/2022, Công ty Cổ phần I (tên cũ: Công ty Cổ phần I) và Công ty TNHH K có ký kết Hợp đồng số 034-HDDV/SGL-NOVA FnB về việc cho thuê kho bãi với đơn giá cho thuê được quy định tại Phụ lục Hợp đồng 01 đính kèm Hợp đồng. Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 02/01/2022 đến hết ngày 02/01/2023; quá trình thực hiện hợp đồng các bên có ký bổ sung các Phụ lục 02, 03 như nguyên đơn trình bày.

Ngày 26/12/2022, công ty I đã gửi thông báo tới công ty K về việc không gia hạn Hợp đồng và tiến hành thực hiện thủ tục chấm dứt Hợp đồng kể từ ngày 02/01/2023. Tuy nhiên vào thời điểm này công ty I gặp khó khăn trong vấn đề tài chính nên không thể thanh toán toàn bộ công nợ cho phía công ty K. Ngày 02/01/2023, công ty I có đề nghị được chấm dứt Hợp đồng và di chuyển hàng hoá của mình ra khỏi khu vực kho thuộc quản lý của công ty K nhưng công ty K không đồng ý với lý do công ty I chưa hoàn tất nghĩa vụ thanh toán công nợ theo Hợp đồng. Ngày 24/05/2024, Công ty K gửi thông báo đề nghị In Dining di dời hàng hoá ra khỏi kho. Vì phải sắp xếp nhân sự thực hiện việc di dời nêu trên nên đến ngày 6/6/2024, công ty I mới hoàn tất di dời hàng hoá ra khỏi kho của công ty K.

Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công ty I có ý kiến như sau:

  • Đối với số tiền nợ phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa năm 2022 là 100.978.504 đồng, ngày 11/6/2024 Công ty I đã thanh toán.
  • Đối với yêu cầu phải chịu số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán là 270.544.028 đồng, trong đó: Số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán trong năm 2022 là (3.220.394.531đ x 8% = 257.631.562 đồng); số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán trong năm 2023 là (161.405.818 x 8% = 12.912.456 đồng). Công ty I không đồng ý; Vì, theo điểm i khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng các bên quy định: “Trường hợp Bên B chậm thanh toán so với thời hạn thanh toán của Hợp đồng thì Bên B chịu một khoản tiền phạt chậm trả 0,1% phần giá trị chậm thanh toán cho mỗi ngày chậm thanh toán”; trong khi đó Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 là quy định về mức phạt vi phạm: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm”. Do đó, nguyên đơn không có cơ sở yêu cầu công ty I phải chịu số tiền phạt do chậm thanh toán theo Luật Thương mại vì Hợp đồng các bên không quy định về điều khoản phạt chậm thanh toán.

Đối với yêu cầu thanh toán chi phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa từ ngày 02/01/2023 đến hết tháng 02/2024 là 600.000.000 đồng của nguyên đơn công ty K là không có cơ sở. Vì, căn cứ vào Thông báo gởi cho công ty K trước đó; công ty I đã đề nghị được chấm dứt Hợp đồng và di chuyển hàng hoá của mình ra khỏi khu vực kho thuộc quản lý của công ty K nhưng Kho vận S không đồng ý. Do đó, công ty I không thể di dời hàng hóa của mình sau khi Hợp đồng giữa các bên hết hạn. Đến ngày 24/05/2024, Kho vận S mới gửi thông báo đề nghị công ty I di dời hàng hoá ra khỏi kho. Vì phải sắp xếp nhân sự thực hiện việc di dời nêu trên nên đến ngày 06/6/2024, công ty I mới tiến hành di dời hàng hoá ra khỏi kho của K. Vì vậy, I không đồng ý thanh toán phí thuê kho trong thời gian này theo yêu cầu của công ty K.

Tại phiên tòa các bên đã tranh luận về số tiền chi phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa phát sinh sau ngày 02/01/2023, tranh luận về các chứng từ hợp lệ để làm cơ sở cho công ty I thanh toán cho công ty K;

Theo đại diện nguyên đơn, từng tháng phía nguyên đơn đều gởi các hóa đơn, chứng từ đối soát theo từng kỳ (tháng) thanh toán; bị đơn tiếp nhận không có bất cứ ý kiến gì, kể cả các hóa đơn phạt vi phạm do chậm thanh toán; các chứng từ này đều hợp lệ, đúng quy định. Đối với chi phí thuê kho phát sinh từ ngày 02/01/2023 đến hết tháng 02/2024; từ ngày 28/12/2022; phía nguyên đơn đã có nhiều văn bản thông báo, nhiều lần làm việc trực tiếp với nhân viên công ty I về chấm dứt hợp đồng, thanh toán công nợ, đối soát, di chuyển hàng hóa, tuy nhiên phía bị đơn không thực hiện. Thực tế, sau ngày 02/01/2023, hàng hóa của bị đơn vẫn được được bảo quản trong kho nguyên đơn theo hợp đồng; trong thời gian này, nhiều lần bị đơn yêu cầu nguyên đơn vận chuyển, luân chuyển hàng hóa trong kho đến các địa điểm chỉ định theo yêu cầu của mình, nguyên đơn vẫn thực hiện và xuất hóa đơn chứng từ cho bị đơn. Đến ngày 06/6/2024 bị đơn mới chuyển hết số hàng hóa. Theo đại diện bị đơn, công ty giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định về: thẩm quyền thụ lý quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.
    • Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • Nguyên đơn và người đại diện đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
    • Bị đơn và người đại diện đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
  3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
    • Về yêu cầu phạt chậm thanh toán: Theo quy định tại khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng các bên thỏa thuận: Chi phí, dịch vụ tại kho hàng tháng sẽ được thanh toán trong vòng 15 ngày kể từ ngày bên B nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ của bên A. Theo các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, giao nộp cho Tòa án thể hiện: Qúa trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn công ty I thường xuyên thanh toán trễ hạn các kỳ thanh toán (tương ứng hóa đơn và thời gian trễ hạn) cho nguyên đơn công ty K. Do vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu số tiền phạt do chậm thanh toán theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 với tổng số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 270.544.028 đồng là có cơ sở chấp nhận.
    • Đối với yêu cầu thanh toán chi phí lưu kho, dịch vụ sau ngày 02/01/2023: Nguyên đơn đã có thông báo Phụ lục hợp đồng 04 đề nghị gia hạn hợp đồng, bị đơn không đồng ý gia hạn nhưng không thanh toán hết công nợ để thanh lý hợp đồng; các bên có nhiều mail trao đổi qua lại nhưng không thống nhất được việc thanh toán công nợ; nguyên đơn có thư mời họp về việc giải quyết công nợ năm 2022 và 2023, thông báo nhắc nợ, đề nghị thanh toán nhưng bị đơn vẫn không có phản hồi; các nội dung này được thể hiện qua Vi bằng số 260/2024/VB-TPL do Văn phòng T1 lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 12/3/2024. Thực tế, hàng hóa của bị đơn vẫn lưu tại kho nguyên đơn từ tháng 01/2023 đến tháng 6/2024 mới chuyển hết đi và trong thời gian này; nguyên đơn vẫn thực hiện các dịch vụ vận chuyển hàng hóa lưu trong kho theo yêu cầu bị đơn. Tổng số tiền chi phí thuê kho từ tháng 01/2023 đến tháng 02/2024 là 664.988.046 đồng, nguyên đơn không tính chi phí thuê kho từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024; bị đơn đề nghị giảm tiền chi phí thuê kho nhưng không đưa ra mức đề nghị giảm cụ thể. Nguyên đơn tự nguyện giảm 64.988.046 đồng chi phí thuê kho cho bị đơn, không tính chi phí thuê kho từ tháng 03/2024 đến tháng 06/2024; xét đây là sự tự nguyện có lợi cho bị đơn, có cơ sở chấp nhận. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và khi hết hạn Hợp đồng các bên không gia hạn hợp đồng nhưng hàng hóa của bị đơn vẫn lưu tại kho của nguyên đơn. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu thanh toán chi phí thuê kho là có cơ sở chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 91, 147, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ các Điều 351, 513, 515, 519 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 300, 301 Luật Thương mại năm 2005.
  • Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH K: Buộc bị đơn Công ty Cổ phần I phải thanh tóa cho Công ty TNHH K số tiền phạt chậm thanh toán: 270.544.028 đồng và chi phí thuê kho 600.000.000 đồng. Tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là: 870.544.028 đồng.
  • Về án phí: Bị đơn Công ty Cổ phần I chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty TNHH K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty Cổ phần I thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán và chi phí thuê kho phải thanh toán, nên đây là tranh chấp về Hợp đồng thuê kho. Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0313171652, đăng ký lần đầu: ngày 20/3/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 11: ngày 28/6/2023 thì bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại: Số C, Lầu C, Khối tháp V - V6 Khu chung cư kết hợp thương mại, Văn phòng L (S, khu S), Số B đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Tp . theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu thuê kho bãi và dịch vụ quản lý hàng hóa các bên ký kết ngày 02/01/2022, thấy rằng, Hợp đồng được các bên ký kết có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thoả thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tự nguyện ký kết, thực hiện phù hợp với quy định pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Các bên chưa thanh lý hợp đồng.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn đối với các bị đơn:

  • Về yêu cầu bị đơn phải chịu tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán: Căn cứ Hợp đồng thuê kho bãi và dịch vụ quản lý hàng hóa các bên ký kết ngày 02/01/2022; tại khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng các bên quy định: Chi phí, dịch vụ tại kho hàng tháng sẽ được thanh toán trong vòng 15 ngày kể từ ngày bên B nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ của bên A. Theo các tài liệu chứng cứ, Vi bằng số 260/2024/VB-TPL do Văn phòng T1 lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 12/3/2024 nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện: Quá trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn công ty I đã vi phạm hợp đồng, thanh toán trễ hạn các kỳ thanh toán (tương ứng hóa đơn và thời gian trễ hạn) cho nguyên đơn công ty K. Tại điểm i khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng các bên quy định: “Trường hợp Bên B chậm thanh toán so với thời hạn thanh toán của Hợp đồng thì Bên B chịu một khoản tiền phạt chậm trả 0,1% phần giá trị chậm thanh toán cho mỗi ngày chậm thanh toán”. Căn cứ Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 quy định về mức phạt vi phạm: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm”. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 với số tiền 270.544.028 đồng là có cơ sở chấp nhận.
  • Xét yêu cầu thanh toán chi phí thuê kho, dịch vụ quản lý hàng hóa sau ngày 02/01/2023: Theo các tài liệu chứng cứ, Vi bằng số 260/2024/VB-TPL do Văn phòng T1 lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 12/3/2024 nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện: Khi hợp đồng kết thúc, các bên có nhiều thư điện tử (email) trao đổi qua lại nhưng không thống nhất được việc thanh toán công nợ; nguyên đơn có thư mời họp về việc giải quyết công nợ năm 2022 và năm 2023, thông báo nhắc nợ, đề nghị thanh toán nhưng bị đơn vẫn không có phản hồi; phía nguyên đơn có thông báo Phụ lục hợp đồng 04 đề nghị gia hạn hợp đồng, bị đơn không đồng ý gia hạn nhưng không thanh toán hết công nợ để thanh lý hợp đồng. Thực tế, hàng hóa của bị đơn vẫn được lưu giữ, quản lý tại kho từ tháng 01/2023 đến tháng 6/2024 mới chuyển hết đi và trong thời gian này, nguyên đơn vẫn thực hiện các dịch vụ liên quan đến hàng hóa (vận chuyển, luân chuyển hàng hóa lưu trong kho) theo yêu cầu bị đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền chi phí thuê kho và dịch vụ quản lý hàng hóa trong thời gian này là có căn cứ. Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thì tổng số tiền chi phí thuê kho, dịch vụ từ tháng 01/2023 đến tháng 02/2024 là 664.988.046 đồng, nguyên đơn không tính chi phí thuê kho từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024; đồng thời giảm tiếp số tiền thuê 64.988.046 đồng; chỉ yêu cầu thanh toán số tiền 600.000.000 đồng; bị đơn đề nghị giảm tiền phí lưu kho nhưng không đưa ra mức đề nghị giảm cụ thể. Hợp đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn, nên có cơ sở chấp nhận. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và khi hết hạn Hợp đồng các bên không gia hạn hợp đồng nhưng hàng hóa của bị đơn vẫn lưu tại kho của nguyên đơn. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán chi phí thuê kho từ tháng 01/2023 đến tháng 02/2024 với số tiền 600.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận. Ngay sau khi bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 600.000.000 đồng này; nguyên đơn Công ty K có trách nhiệm xuất hóa đơn tài chính đối với số tiền này cho bị đơn Công ty I theo quy định.
  • Đối với Công ty Cổ phần I1: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều xác định Công ty I1 không liên quan gì đến việc tranh chấp giữa các bên trong vụ án này; nguyên đơn không có yêu cầu gì; đề nghị Tòa án không đưa Công ty I1 tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ theo Văn bản xác định lại nội dung, yêu cầu khởi kiện ngày 25/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa; các bên đương sự đều xác định Công ty I1 không liên quan gì vụ án, do đó không đưa Công ty I1 tham gia tố tụng trong vụ án này là phù hợp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với phân tích, nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; nguyên đơn đã nộp đủ theo Phiếu thu số 161 ngày 22/8/2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 147, 157, 158, 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 351, 357, 468, 513, 515 và 519 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 300, 301 Luật Thương mại năm 2005;
  • Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH K về việc yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần I thanh toán số tiền 870.544.028 (tám trăm bảy mươi triệu, năm trăm bốn mươi bốn nghìn, không trăm hai mươi tám đồng).

Buộc Công ty Cổ phần I có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH K số tiền 870.544.028 (tám trăm bảy mươi triệu, năm trăm bốn mươi bốn nghìn, không trăm hai mươi tám) đồng; thanh toán làm một lần. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngay sau khi bị đơn Công ty Cổ phần I thanh toán đủ số tiền; nguyên đơn Công ty TNHH K có trách nhiệm xuất hóa đơn tài chính đối với số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng cho Công ty Cổ phần I theo quy định.

2. Về án phí: Công ty Cổ phần I phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 38.116.321 (ba mươi tám triệu, một trăm mười sáu ngàn, ba trăm hai mươi mốt đồng).

Công ty TNHH K không phải chịu án phí. H ai số tiền tạm ứng án phí Công ty TNHH K đã nộp là 24.620.151 (hai mươi bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn, một trăm năm mươi mốt) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019343 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Tp .

Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định: Nguyên đơn Công ty K chịu; nguyên đơn đã nộp đủ.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH K (đối với khoản tiền Công ty I phải thanh toán cho Công ty K) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải thanh toán, Công ty Cổ phần I còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành, tương ứng với thời gian chậm thi hành, theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Chi cục THADS Q.7;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT (TK Thư).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thuần Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/KDTM-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê kho

  • Số bản án: 118/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thuê kho
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê kho giữa Cty Kho vận và Công ty CP I
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger