|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HS-ST Ngày 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Châu
- Bà Quách Thị Bích Ngà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H;
sinh ngày 16/6/1998, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Dương Thị H1. Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Hồng T, có một người con sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/9/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q1; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Bùi Thị Thảo Q;
địa chỉ: C L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, do cần tiền tiêu xài, đối tượng Nguyễn Trung H đến Công viên nước Đ tại địa chỉ số C Hòa Bình, Phường C, Quận A tìm người có tài sản để sơ hở để trộm cắp. Khi đi ngang ghế dưới máng trượt, đối tượng H phát hiện nhiều ba lô, túi xách không có người trông coi. Đối tượng H lén lút đi bộ đến, ngồi xuống ghế đá, dùng tay mở túi xách màu đen của bà Bùi Thị Thảo Q. đối tượng H lục soát túi xách trên rồi trộm cắp số tiền 135.000 đồng và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, bỏ vào túi quần bên trái. Sau đó, đối tượng H rời khỏi hiện trường. Lúc này, chị Nguyễn Khánh N là bạn của bà Q phát hiện và dùng điện thoại ghi hình toàn bộ hành vi của đối tượng H. Ngay khi đối tượng H rời đi, chị N cùng bảo vệ bắt giữ đối tượng H giao Công an P, Quận A lập biên bản phạm tội quả tang và thu hồi vật chứng của vụ án là một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 135.000 đồng từ trong túi quần bên trái của đối tượng H đang mặc.
Kết luận định giá tài sản số 50 ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng, trị giá 8.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Trung H2 thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng của vụ án bao gồm:
- Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và tiền Việt Nam 135.000 đồng của bà Bùi Thị Thảo Q là tài sản bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại là bà Bùi Thị Thảo Q.
- Một nón, một áo thun màu xanh, một quần dài màu xám, là trang phục bị can H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Một điện thoại di động hiệu Oppo F7, là tài sản riêng của bị can H.
- Một USB chứa hình ảnh vụ việc.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Bùi Thị Thảo Q đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị can H.
Tại Bản cáo trạng số 132/CT-VKSQ11 ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Nguyễn Trung H tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung H có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là bà Bùi Thị Thảo Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Lưu vào hồ sơ vụ án một USB chứa hình ảnh vụ việc.
- Tịch thu, tiêu hủy một nón, một áo thun màu xanh, một quần dài màu xám.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H một máy điện thoại di động hiệu Oppo F7.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, tại Công viên nước Đ, số C Hòa Bình, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Trung H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 135.000 đồng và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax trị giá 8.500.000 đồng của bà Bùi Thị Thảo Q.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.635.000 đồng (tám triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đây đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về việc xem xét không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Trung H không có việc làm có thu nhập ổn định, trong khi phải nuôi con nhỏ nên không đảm bảo khả năng chấp hành án khoản nộp phạt tiền; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là một USB ghi hình ảnh liên quan vụ án do Công an P, Quận A và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 trích xuất camera và lưu vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Q1 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là tiền Việt Nam 135.000 đồng và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax; đây là tài sản của bà Bùi Thị Thảo Q bị bị cáo Nguyễn Trung H chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Bùi Thị Thảo Q. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- Đối với vật chứng là một áo thun cũ tay ngắn, màu xanh dương, một quần dài cũ, màu xám, một mũ lưỡi trai; đây là trang phục bị cáo Nguyễn Trung H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu xanh, máy cũ bị bể mặt kính, là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Trung H, không dùng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Bùi Thị Thảo Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Trung H, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Lưu vào hồ sơ vụ án một USB ghi hình ảnh liên quan vụ án.
Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một áo thun cũ tay ngắn, màu xanh dương, một quần dài cũ, màu xám, một mũ lưỡi trai (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1163/LNK-ĐTTH ngày 30/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu xanh, máy cũ bị bể mặt kính (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1163/LNK-ĐTTH ngày 30/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 118/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
