Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số 118/2024/HS-ST

Ngày 26 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Việt A; sinh ngày 02 tháng 5 năm 1994, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hoàng V và bà Phùng Thị Đ; có vợ là Đàm Thị L, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2021; tiền án: Ngày 17/7/2020, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Đánh bạc”; tiền sự: Không; đầu thú ngày 05/7/2024, tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 11/7/2024, tạm giam từ ngày 11/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH N (Công ty N). Người đại diện theo pháp luật: ông L1, Y – chức vụ: Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc. Người được ủy quyền: ông C, H (S) – chức vụ: Phó Tổng giám đốc, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt); anh Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1996; địa chỉ: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đặng Duy T, sinh năm 1992. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1996. Nơi thường trú: khu B, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở hiện tại: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  3. Anh Trần Minh T1, sinh năm 1996. Nơi thường trú: thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: 1 L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Lê Minh H1, sinh năm 1998. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Việt A là công nhân của Công ty TNHH N (Công ty N) thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q. Việt Anh bắt đầu làm việc tại công ty từ ngày 03/6/2024 với thời gian thử việc 02 tháng, được giao nhiệm vụ làm trưởng ca bộ phận sản xuất, có nhiệm vụ quản lý công nhân làm việc và quản lý kho sản xuất. Trong quá trình làm việc, Đặng Việt A cùng anh Nguyễn Ngọc L2 (sinh năm 1996, nơi thường trú: khu B, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở hiện tại: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh); anh Trần Minh T1 (sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: 1 L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) – là công nhân của Công ty N đều được Công ty N cấp cho 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell để làm việc, trong đó Việt A được cấp máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 1FG5924, EX: 3110893852 màu đen vào ngày 05/6/2024, anh L2 được cấp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 49G5924, EX: 9278443804 màu xám đen và anh T1 được cấp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 6LF5924, EX: 1435592297 màu xám đen. Công ty cấp máy tính cho công nhân trực tiếp quản lý, sử dụng, phục vụ công việc của công ty. Khi công nhân muốn đưa tài sản ra khỏi công ty thì phải có phiếu xin phát hành hàng hóa ra khỏi xưởng. Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân và trả nợ nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/7/2024, lợi dụng việc được giao quản lý tài sản Đặng Việt A đã đến công ty lén lút mang máy tính ra ngoài rồi cầm cố chiếc máy tính xách tay cho anh Đặng Duy T, sinh năm 1992, trú tại khu B, phường Y, thị xã Q với giá 10.000.000 đồng và vay thêm 25.000.000 đồng. Khi mang máy đến cầm cố Việt A nói với anh T đây là máy tính của mình. Số tiền trên Đặng Việt A đã tiêu sài cá nhân hết. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 04/7/2024, anh T nói với Việt A chiếc máy tính nêu trên không có giá trị đến 35.000.000 đồng và yêu cầu Việt A trả lại số tiền 10.000.000 đồng. Do không có tiền trả lại cho anh T nên Việt A đã nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc máy tính xách tay của Công ty N giao cho anh L2 và anh T1. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, lợi dụng khi công nhân trong Công ty N đã đi về hết, Đặng Việt A một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, không rõ biển kiểm soát (trước đó Đặng Việt A mượn của anh Lê Minh H1, sinh năm 1998, trú tại thôn A, xã S, thị xã Q để đi làm) đến Công ty N rồi đi vào phòng làm việc của anh L2, anh T1 trộm cắp 02 chiếc máy tính xách tay sau đó bỏ vào trong 01 ba lô màu đen rồi đem ra khỏi Công ty. Việt A cầm 02 chiếc máy tính này đi về cầm cố cho anh T để lấy thêm 16.800.000 đồng từ anh T. Khi mang máy đến cầm cố Việt A nói với anh T đây là máy tính xách tay mượn của bạn. Khoảng 13 giờ ngày 05/7/2024, Công ty N phát hiện bị mất trộm tài sản nên đã đến Công an thị xã Q trình báo sự việc. Đến 14 giờ 30 phút, ngày 05/7/2024, Đặng Việt A đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Việt Anh tự nguyện giao nộp 01 chiếc ba lô màu đen, chất liệu bằng vải, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng gắn 01 sim và số tiền 52.400.000 đồng. Quá trình điều tra, anh Đặng Duy T tự nguyện giao nộp 03 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 1FG5924, EX: 3110893852 màu đen, Dell G15 5530, ST: 49G5924, EX: 9278443804 màu xám đen và Dell G15 5530, ST: 6LF5924, EX: 1435592297 màu xám đen cho Cơ quan điều tra.

Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ dữ liệu điện tử, biên bản xem dữ liệu điện tử là camera tại Công ty N xác định: Tại mắt camera trước hành lang lối ra vào phòng làm việc ghi nhận vào hồi 18 giờ 04 phút ngày 04/7/2024 Việt A một mình đi vào bên trong phòng để máy tính của Công ty đến 18 giờ 05 phút đi ra ngoài mang theo 01 chiếc balô tối màu.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 35/KL-HĐĐG, ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 1FG5924, EX: 3110893852 màu đen có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 32.576.667 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 49G5924, EX: 9278443804 màu xám đen và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G15 5530, ST: 6LF5924, EX: 1435592297 màu xám đen, mỗi chiếc có giá trị tại thời điểm trộm cắp là 32.608.889 đồng.

Về vật chứng: Đối với 03 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell nêu trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty N. Đối với 01 chiếc ba lô màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, số tiền 52.400.000 đồng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên để chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Đặng Duy T yêu cầu Việt A trả lại số tiền đã cầm cố 03 máy tính xách tay là 51.800.000 đồng, hiện bị cáo chưa trả cho anh T.

Bản cáo trạng số 2754/CT-VKSQY ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Đặng Việt A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị: Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Việt A từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”, tổng hợp hình phạt xử phạt bị cáo Đặng Việt A từ 05 năm tù đến 06 năm tù. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng của bản án số 99/2020/HSST ngày 17/7/2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo Đặng Việt A phải chấp hành hình phạt từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù, được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến 11/01/2019. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2024.

Áp dụng các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng Duy T số tiền 51.800.000 đồng.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen; trả lại cho bị cáo Việt A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, kèm 01 sim.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Việt A khai nhận: Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân và trả nợ nên lợi dụng việc được giao quản lý tài sản Đặng Việt A đã đến công ty lén lút mang máy tính ra ngoài rồi cầm cố chiếc máy tính xách tay cho anh Đặng Duy T với giá 10.000.000 đồng và vay thêm 25.000.000 đồng. Khi mang máy đến cầm cố Việt A nói với anh T đây là máy tính của mình. Số tiền trên Đặng Việt A đã tiêu sài cá nhân hết. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 04/7/2024, anh T nói với Việt A chiếc máy tính nêu trên không có giá trị đến 35.000.000 đồng và yêu cầu Việt A trả lại số tiền 10.000.000 đồng. Do không có tiền trả lại cho anh T nên Việt A lợi dụng khi công nhân trong Công ty N đã đi về hết, Đặng Việt A một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, không rõ biển kiểm soát (trước đó Đặng Việt A mượn của anh Lê Minh H1, sinh năm 1998, trú tại thôn A, xã S, thị xã Q để đi làm) đến Công ty N rồi đi vào phòng làm việc của anh L2, anh T1 trộm cắp 02 chiếc máy tính xách tay sau đó bỏ vào trong 01 ba lô màu đen rồi đem ra khỏi Công ty. Việt A cầm 02 chiếc máy tính này đi cầm cố cho anh T để lấy thêm 16.800.000 đồng từ anh T. Khi mang máy đến cầm cố Việt A nói với anh T đây là máy tính xách tay mượn của bạn; lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có ý kiến gì về nội dung bản Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người được ủy quyền: ông C, H (S) có lời khai thể hiện: Công ty F ký hợp đồng lao động số 10425986/2024/HĐLĐ-FEVC đối với Đặng Việt A trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 03/6/2024 đến hết ngày 02/6/2025, thời gian xử việc là 60 ngày kể từ ngày 03/6/2024 đến ngày 01/8/2024. Trong hợp đồng nêu rõ người được tuyển dụng được cấp phát những thiết bị tài sản theo yêu cầu công việc và phải bảo quản tốt tài sản theo yêu cầu của công ty, tức là người được tuyển có trách nhiệm quản lý tài sản được giao phục vụ công việc, không được tự ý chuyển nhượng hay cầm cố mua bán tài sản của công ty. Sau khi ký hợp đồng Đặng Việt A được công ty trang bị cho 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Dell G15553017H165W11GR4060, số seri: 1FG5924, cấp cho Đặng Việt A ngày 05/6/2024 để phục vụ công tác nhưng Đặng Việt A đã mang đi cầm cố cho người khác chiếc máy tính mà công ty đã giao để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Việc này công ty C1 không cho người quản lý tài sản được đem cầm cố bán tài sản. Tiếp đó khoảng 18 giờ 04 phút ngày 04/7/2024, Đặng Việt A đã lợi dụng sơ hở khi phòng kỹ sư của công ty không khóa, mọi người hết giờ về đã vào trộm cắp 02 chiếc máy tính của Công ty giao cho Nguyễn Ngọc L2, nhãn hiệu DELL G155530I7H165W11GR060, mã 49G5924 và Trần Minh T1, nhãn hiệu DELL G155530I7H165W11GR060, mã số 6LF5924, để sử dụng vào công việc. 03 chiếc máy tính do Đặng Việt A lấy đều là máy cũ đã qua sử dụng, được công ty mua sau đó nhập về kho của công ty và cấp phát cho Việt A, L2, T1 sử dụng vào đầu tháng 5/2024. Mỗi máy đều có giá 35.790.000 đồng. Ngoài 03 chiếc máy tính trên công ty không mất tài sản nào khác, việc Đặng Việt A chiếm đoạt tài sản là chiếc máy tính mà công ty giao cho và còn trộm cắp 02 chiếc máy vi tính của công ty giao cho anh L2 và anh T1 là vi phạm pháp luật. Công ty đã nhận lại 03 chiếc máy vi tính xách tay mà Đặng Việt A đã chiếm đoạt, 03 chiếc máy vi tính nhận lại còn nguyên vẹn kèm theo dây sạc và chuột, không có ý kiến gì khác về tài sản và xin giảm án cho Việt A.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Duy T có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại: Khoảng 17 giờ ngày 03/7/2024, khi đang ở nhà thì Việt A gọi điện nói là có cái laptop (máy tính xách tay) mới mua hơn 30 triệu đồng và nhờ cầm cố giúp. Một lúc sau thì Việt A một mình đi xe máy (không nhớ biển số xe) đến nhà gặp anh T và lấy từ trong túi vải màu đen 01 chiếc laptop màu đen nhãn hiệu Dell cho xem, khi đó Việt A nói là đây là máy tính của Việt A, Việt A nói làm ở công ty lên sẽ lấy lại ngay, cho Việt A cắm 10 triệu. Khi đó anh T có thấy tên của Việt A được dán lên góc màn hình máy tính. Anh T có tra mạng Google thì thấy chiếc máy tính của Việt A mang đến có giá mua mới là 39.000.000 đồng. Sau khi kiểm tra xác định chiếc laptop còn mới không vấn đề gì thì đồng ý cầm cố và đưa cho Việt A số tiền 10 triệu đồng. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày thì Việt A điện thoại vay thêm 25 triệu đồng thì anh T đồng ý và đưa thêm tiền mặt cho Việt A. Anh T và Việt A thỏa thuận tiền cầm cố chiếc máy laptop nêu trên là 35 triệu đồng. Đến sáng ngày 04/7/2024, anh T kiểm tra lại thì thấy giá bán của chiếc máy tính Việt A cầm cố không đến 35 triệu đồng nên anh T gọi điện cho Việt A yêu cầu trả lại 10 triệu đồng (chỉ cho cầm mức giá 25 triệu đồng). Lúc này Việt A nói “giờ không có tiền, còn đang muốn vay thêm, có gì để mượn laptop của bạn đưa cho anh T” thì anh T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì anh T đi ra quán Internet ở gần Công an phường Y hẹn để đưa thêm cho tôi 02 máy laptop khác cũng đặc điểm với chiếc laptop V1 cầm cố trước đó, anh T nhận laptop và đưa thêm cho Việt A số tiền 16.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền anh T cầm cố 03 chiếc máy laptop cho Việt A là 51.800.000 đồng. Nay anh T yêu cầu Việt A trả lại số tiền trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho Việt A.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc L2 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại: Công ty N có trang bị cho 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell G155530 (mã 49G5924) để sử dụng. Do là máy của Công ty C2 nên quá trình sử dụng thì thường để chiếc máy tính trên bàn tại phòng làm việc của mình trong công ty mà không mang về nhà. Tối ngày 04/7/2024 thì vẫn như mọi hôm sau khi sử dụng vẫn để máy tính trên bàn làm việc của mình rồi ra về (phòng làm việc không khóa cửa vì có bảo vệ). Đến khoảng 07h 30 phút ngày 05/7/2024 thì Đặng Việt A, sinh năm 1994, trú tại khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là nhân viên quản lý bên bộ phận sản xuất của Công ty N nhắn tin nói với nội dung Việt A đã lấy máy tính xách tay của Công ty C2 cho anh L2 và anh Trần Minh T1 (anh T1 cũng là kỹ sư và làm cùng phòng làm việc với anh L2) đi cầm cố và dặn đừng nói với ai. Sau khi đến Công ty kiểm tra thì phát hiện cả 02 máy tính của anh L2 và T1 đều không còn ở phòng làm việc nên đã báo cáo sự việc cho lãnh đạo Công ty biết. Công ty đã nhận lại chiếc máy tính xách tay mà Đặng Việt A đã chiếm đoạt của anh L2 được công ty giao cho quản lý và sử dụng, anh L2 không có ý kiến gì khác về tài sản và xin giảm án cho Đặng Việt A.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Minh T1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại: Khoảng 7 giờ 50 phút, ngày 05/07/2024, khi đến công ty làm việc thì không thấy chiếc máy vi tính xách tay để trên bàn nữa, lúc đó trong phòng làm việc có anh Nguyễn Ngọc L2, sinh năm: 1996, trú tại: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, và anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1983, trú tại: khu C, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương, cũng đang ở trong phòng việc và anh L2 cũng bị mất máy vi tính xách tay của anh L2. Sau khoảng 10 phút tìm kiếm và hỏi mọi người trong Công ty không ai cầm và không ai biết 02 chiếc máy vi tính xách tay của anh T1 và anh L2 đâu nên anh T1 và anh L2 thống nhất lên gặp ông Max L3 (Quốc tịch: Đài Loan), là sếp quản lý trực tiếp của anh T1 và anh L2 để báo cáo tình hình. Sau đó ông Mac L4 có bảo nhân viên IT của Công ty là anh Phan Đức T3, sinh năm: 2001, trú tại: số A, T, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đưa anh T1 và anh L2 xuống phòng quản lý, giám sát để kiểm tra lại hệ thống Camera của Công ty. Khoảng 8 giờ 59 phút, cùng ngày thì T3 có gửi đoạn video clip quá trình kiểm tra Camera của hệ thống Camera theo dõi thì phát hiện: Vào lúc 18 giờ 05 phút, ngày 04/07/2024, Đặng Việt A, sinh năm: 1994, trú tại: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có đi người không vào các phòng làm việc sau đó khi đi ra thì Việt A có đeo một ba lô màu đen. Anh Tú thấy anh L2 bảo 9 giờ ngày 05/07/2024, Đặng Việt A sẽ mang máy vi tính xách tay lên Công ty để trả cho anh T1 và anh L2. Một lúc sau anh L2 nói với anh Tú Việt A1 hẹn 11 giờ mới đến Công ty trả máy vi tính xách tay cho anh T1 và anh L2 được. Đợi đến 12 giờ không thấy Đặng Việt A mang máy vi tính xách tay đến nên anh L2 đã quyết định báo cơ quan Công an. Công ty đã nhận lại chiếc máy tính xách tay mà Đặng Việt A đã chiếm đoạt của anh T1 được công ty giao cho quản lý và sử dụng, anh T1 không có ý kiến gì khác về tài sản và xin giảm án cho Đặng Việt A.

Người làm chứng: anh Lê Minh H1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, anh Lê Minh H1 đã cho Việt A mượn xe máy đi làm, Việt A đã trả lại xe máy cho anh Lê Minh H1 và anh Lê Minh H1 cho Việt A vay 52.600.000 đồng, nay anh Lê Minh H1 yêu cầu bị cáo trả tiền và không có yêu cầu gì khác.

Bị hại (đại diện bị hại), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ (chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường và việc trích xuất video camera) phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Việt A thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và nội dung trích xuất hình ảnh video, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 03/7/2024, Đặng Việt A là công nhân thuộc Công ty TNHH N thuộc khu công nghiệp Đ, thị xã Q có hành vi chiếm đoạt 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu đen có giá trị 32.576.667 đồng của Công ty N giao cho Việt A trách nhiệm quản lý, sử dụng. Đến ngày 04/7/2024, tại Công ty F1 có hành vi trộm cắp 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu đen có giá trị 65.217.778 đồng của Công ty N giao cho các anh Nguyễn Ngọc L2 và Trần Minh T1 quản lý, sử dụng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đây là một trong những quyền được pháp luật Nhà nước bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Do đó, các hành vi của bị cáo Đặng Việt A đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 và tội “Tham ô tài sản” theo theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1]Hình phạt chính:

  • - Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội khi đang thi hành thời hạn hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Đánh bạc” của Bản án số 99/2020/HS-ST, ngày 17/7/2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, vì vậy bị cáo đã vi phạm khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, nên khi phạm tội lần này bị cáo phải bị chuyển từ 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 30 tháng tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù giam và hình phạt của các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tham ô tài sản” của bản án này theo quy định của pháp luật.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “tái phạm”, nên bị áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi nên đã đến cơ quan Công an đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell nêu trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty N, nên không đề cập xử lý. Đối với 01 chiếc ba lô màu đen dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng có gắn 01 sim điện thoại xét thấy bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo; số tiền 52.400.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo khai để trả cho anh Đặng Duy T số tiền bị cáo đã cầm cố 03 máy tính là 51.800.000 đồng, vì vậy cần ghi nhận ý kiến của bị cáo, trả cho anh T số tiền 51.800.000 đồng, số tiền còn lại trả lại cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Công ty N đã nhận lại 03 chiếc máy tính xách tay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết; anh T có yêu cầu bị cáo phải trả cho anh T 51.800.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo khai đồng ý trả cho anh Đặng Duy T 51.800.000 đồng, vì vậy cần ghi nhận ý kiến của bị cáo, trả cho anh T số tiền 51.800.000 đồng; tại cơ quan điều tra anh Lê Minh H1 có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã vay của anh Lê Minh H1, xét thấy đây là giao dịch dân sự giữa anh Lê Minh H1 và bị cáo Đặng Việt A, không liên quan đến vụ án, nên không xem xét, anh Lê Minh H1 có quyền khởi kiện đòi tiền bị cáo bằng vụ án dân sự khác.

[6] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với anh Đặng Duy T là người cầm cố máy tính của bị cáo, nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên không đủ cơ sở để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định;

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 353; Điều 55; Điều 56; khoản 5 Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự;
    • - Tuyên bố: bị cáo Đặng Việt A phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tham ô tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Việt A 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 03 (B) năm tù về tội: “Tham ô tài sản”, tổng hợp với 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, về tội “Đánh bạc” của Bản án số 99/2020/HS-ST, ngày 17/7/2020, của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng chuyển thành 30 tháng tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt là 08 (T4) năm tù, được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến 11/01/2019, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 05/7/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc ba lô màu đen. Buộc bị cáo Đặng Việt A bồi thường cho anh Đặng Duy T số tiền 51.800.000 đồng (Năm mươi mốt triệu, tám trăm nghìn đồng), trừ vào số tiền 52.400.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tạm giữ của bị cáo. Trả cho bị cáo Đặng Việt A 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng có gắn 01 (Một) sim điện thoại và 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

    (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 09 giờ, 15 phút, ngày 18/11/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.590.000 đồng (Hai triệu, năm trăm chín mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát NDTX Quảng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TX Quảng Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản và tham ô tài sản

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Việt Anh phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội “Tham ô tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger