|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HS-ST Ngày: 11-11-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và ông Lương Văn Cang;
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Duy – Kiểm sát viên.
Vào ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Nhật D; Tên gọi khác: không. Sinh ngày 10/10/1997, tại tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Khu phố D, Phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Lâm T, sinh năm 1974; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1975; Bị cáo có 01 em; H và tên vợ: Nguyễn Thị Kiều D1, sinh năm 1999; Có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ. Có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Ông Đặng Tiểu T2, sinh năm 1997; Địa chỉ: A P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Ông Nguyễn Lâm T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố D, Phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thua cá độ bóng đá nên Nguyễn Nhật D nảy sinh ý định thuê xe ô tô của người khác đem đi cầm cố lấy tiền tiếp tục chơi. Ngày 01/11/2023, Nguyễn Nhật D gọi điện thoại đặt vấn đề với anh Đặng Tiểu T2 nói dối thuê xe 78A-116.09 nhãn hiệu Mazda 3 của anh T2 trong thời gian 01 tháng, với giá 15.000.000 đồng để cho người khác thuê lại với giá cao hơn, anh Thiên T3 thật nên đồng ý giao xe cho D thuê. Đến ngày 03/11/2023, D điều khiển xe 78A-116.09 đến tiệm C ở thôn P, xã B, thành phố T cầm cố cho anh Nguyễn Trọng N lấy 150.000.000 đồng; thời gian cầm cố 01 tháng. D sử dụng số tiền này vào việc đánh bạc hết. Ngày 08/11/2023, D tiếp tục gặp N thỏa thuận cầm xe ô tô trên thêm 93.400.000 đồng và được N đồng ý đưa thêm tiền. D tiếp tục đánh bạc thua hết tiền rồi bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh. Anh T2 nhiều lần yêu cầu D trả xe nhưng D viện lý do khách đang thuê nên không trả xe; D nghi ngờ và kiểm tra định vị phát hiện xe ô tô đang ở thôn C, xã A, thành phố T nên khoảng 22 giờ ngày 21/12/2023 anh T2 sử dụng chìa khóa dự phòng đến điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 6 giờ ngày 22/12/2023, anh N phát hiện xe không còn nên có gọi cho D và D cam kết đến ngày 15/01/2024 sẽ trả lại cho N 243.400.000 đồng nhưng đến hạn D không trả mà cắt liên lạc nên anh Nhân tố G sự việc đến Công an thành phố T. Ngày 07/7/2024, D đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe ô tô 78A-116.09 có giá trị 285.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 123/CT-VKSTH ngày 05/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Nhật D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, khẳng định không bị oan và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại anh Đặng Tiểu T2 xác nhận D có đưa ra thông tin thuê xe như D trình bày, đã nhận lại tài sản là xe ô tô 78A-116.09 cùng với chìa khóa xe và 30.000.000 đồng về khoản tiền thuê xe. Bị hại T2 không yêu cầu gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho D.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng N trình bày: Trước khi cầm xe đã hỏi kỹ tình trạng pháp lý của xe như thế nào và D nói là chưa làm thủ tục sang tên. N đã nhận lại đủ 243.400.000 đồng về khoản tiền cho vay và không yêu cầu gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T vắng mặt tuy nhiên anh T đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra. Xét việc vắng mặt của anh T không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án và không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
- Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do thua cá độ bóng đá, bị cáo Nguyễn Nhật D nảy sinh ý định thuê xe của người khác mang đi cầm lấy tiền tiếp tục chơi. Thực hiện ý định của mình bị cáo D đã có thủ đoạn gian đối ngay từ đầu, đưa thông tin không đúng sự thật để bị hại T2 giao xe ô tô 78A-116.09 cho bị cáo D. Sau khi nhận xe, D mang xe đến cửa hàng C1 ở thôn P, xã B, thành phố T cầm cố cho anh Nguyễn Trọng N lấy tổng số tiền 243.000.000 đồng. Việc chiếm đoạt tài sản của D hoàn thành kể từ thời điểm T2 giao xe 78A-116.09 cho D. Hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe ô tô 78A-116.09 có giá trị 285.000.000 đồng. Cáo trạng số 123/CT-VKSTH ngày 05/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Nhật D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
- Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyến sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử lý nghiêm. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính nhưng vì đam mê cá độ bóng đá nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chếm đoạt tài sản của người khác để tiếp tục đánh bạc. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Nhật D có nhân thân tốt; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình hạt cho bị cáo; ông bà của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Huân chương kháng chiến hạng nhì; Huân chương kháng chiến hạn nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, tài sản đã được thu hồi nên khi lượng hình cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật và yên tâm cải tạo.
- Về khung hình phạt: Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng N nhận cầm cố xe ô tô 78A-116.09 từ D nhưng N không biết rõ xe do D phạm tội mà có nên hành vi của N không cấu thành tội phạm. Bị cáo Nguyễn Nhật D khai sử dụng tiền để đánh bạc trái phép nhưng ngoài lời khai của D thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý. Mặt khác, bị cáo D tuy có nghề nghiệp nhưng không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật D 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/7/2024.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Nhật D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tâm |
Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 118/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Duy phạm tội lừa đảo
