Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HSST

Ngày: 06/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Khánh

2. Ông Nguyễn Hải Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/HSST ngày 17/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo họ và tên: Vũ Hữu Đ, sinh ngày 03/10/1979 tại Hải Dương; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Huy T và bà Đào Thị É; Có vợ là chị Phạm Thị A, sinh năm 1982; có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: theo trích lục tiền án, tiền sự số 6629724/2024/PV06 ngày 05/9/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú”.
  2. Bị hại: bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962 (chết ngày 23/3/2024).

    Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

  3. Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
    1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942 (mẹ đẻ bị hại)
    2. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, Bắc Ninh

    3. Ông Lê Thành L1, sinh năm 1957 (chồng bị hại)
    4. Chị Lê Thị C, sinh năm 1982 (con bị hại)
    5. Anh Lê Thành G, sinh năm 1985 (con bị hại)

    Đều cư trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

  4. Người đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị L, ông Lê Thành L1, chị Lê Thị C là: Anh Lê Thành G, sinh năm 1985; cư trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T6 và vận tại Đ. Địa chỉ: Số I L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: bà Lê Thị Hồng Y, chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Bình T2, sinh năm 1981.

Tại phiên tòa có mặt: Bị cáo Đ, ông T2

Tại phiên tòa vắng mặt: anh G (có đơn xin vắng mặt), bà L, ông L1, chị C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 22/03/2024, Vũ Hữu Đ (có giấy phép lái xe hạng FC) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 đi từ tỉnh Hải Dương đến thành phố V, tỉnh Phú Thọ để đóng hàng. Khi đi đến đoạn Km11+380 đường B thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội, Đ điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 34 km/h. Lúc này, Đ quan sát thấy phía trước, bên phải cách xe ô tô khoảng 17m có một chiếc xe máy điện, biển kiểm soát 29MĐ1-187.24, được dựng ngược chiều chếch chéo, đầu hướng vào lề đường, đuôi xe hướng ra giữa tim đường. Trên xe máy điện có lắp thêm 01 cáng bằng sắt để chở hoa tươi. Bà Nguyễn Thị T1 đang đứng ở bên trái xe máy điện, cách cáng xe khoảng 50cm. Thấy vậy, Đ tiếp tục điều khiển xe ô tô đi qua chiếc xe máy điện và bà T1. Khi bánh xe phía trước bên phải ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 đi đến vị trí xe máy điện đã va chạm với khung kim loại bên phải của biển số xe máy điện làm chiếc xe máy điện, cáng và hoa trên xe máy điện bị đổ văng về hướng xã Đ, đồng thời làm bà T1 đang đứng cạnh cáng xe ngã văng xuống đường về hướng xã Đ khoảng 4,45m. Lúc này, Đ dừng xe và đưa bà T1 đi cấp cứu tại Bệnh viện N thuộc xã K, huyện M sau đó được chuyển đến Bệnh viện H, Hà Nội để tiếp tục cấp cứu. Tuy nhiên, do thương tích nặng, tiên lượng tử vong cao nên gia đình xin chuyển bà T1 về Bệnh viện Đ2, tỉnh Vĩnh Phúc điều trị. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/3/2024, gia đình đã xin đưa bà T1 về nhà, đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, bà T1 tử vong tại nhà.

Sau khi xảy ra tai nạn, Công an huyện M tiến hành đo nồng độ cồn, xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu của bị can Vũ Hữu Đ. Kết quả: Trong hơi thở của bị can Vũ Hữu Đ không có nồng độ cồn, âm tính với các chất ma tuý.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường hai chiều có vạch kẻ sơn dạng nét đứt (V) chia đoạn đường thành hai chiều xe chạy. Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên chiều đường bên trái hướng từ xã Đ đi xã T. Mặt đường phẳng được rải nhựa áp phan, có chiều rộng là 10,8m. Điểm mốc là cột Km H4/11 nằm bên trái mép đường hướng từ xã Đ đi xã T, mép đường chuẩn là mép đường bên trái hướng từ xã Đ đi xã T.

Từ điểm mốc là cột Km H4/11 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã T 20,3m là vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94. Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 đỗ dọc trên mặt đường, đầu xe quay hướng đi xã Đ, đuôi xe quay hướng đi xã T. Từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 đo ra mép đường chuẩn là 4m, từ hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải xe này đo ra mép đường chuẩn là 3,05m. Từ vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã Đ 0,85m là vị trí số (2) là đầu dấu vết trượt xước mặt đường được ký hiệu C1. Dấu vết C1 có chiều hướng từ xã Đ đi xã T nằm dọc trên mặt đường, kích thước (0,2x0,01)m. Từ đầu dấu vết C1 đo ra mép đường chuẩn là 2,75, cuối dấu vết C1, đo ra mép đường chuẩn là 2,76m. Từ vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã T 0,7m là vị trí số (3) là tâm vùng chất màu nâu đỏ được ký hiệu là M, dấu vết M có kích thước (0,46x0,3)cm. Từ tâm vùng dấu vết M đo ra mép đường chuẩn là 1,9m. Từ vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát: 15R-049.94 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã T 4,9m là vị trí số (4) là đầu dấu vết trượt xước mặt đường được ký hiệu C2, dấu vết C2 có chiều hướng từ xã Đ đi xã T, kích thước (0,42x0,01)m. Từ đầu dấu vết C2 đo ra mép đường chuẩn là 2,8m, cuối dấu vết C2 đo ra mép đường chuẩn là 2,9m. Từ vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát: 15R-049.94 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã T 5,3m là vị trí số (5) là tâm thanh kim loại được ký hiệu là K. T3 kim loại K có kích thước (0,87x0,73)m nằm trên mặt đường cạnh đuôi xe máy điện, biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24, từ tâm thanh kim loại đo ra mép đường chuẩn là 2,85m. Từ vị trí số (1) là hình chiếu tâm trục bánh trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo theo rơ móọc biển kiểm soát 15R-049.94 đo chiếu trên mặt đường theo hướng đi xã T là 6,1m là vị trí số (6) là hình chiếu tâm trục bánh sau xe máy điện biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24. Xe máy điện biển kiểm soát 29MĐ1-187.24 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng đi xã T, đuôi xe quay hướng đi xã Đ. Từ hình chiếu tâm trục bánh trước xe máy điện biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24 đo ra mép đường chuẩn 2,3m, từ hình chiếu tâm trục bánh sau xe máy điện biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24 đo ra mép đường chuẩn là 2,83m.

* Kết quả dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra: Phù hợp với lời khai của bị can Vũ Hữu Đ, người làm chứng và nội dung diễn biến vụ việc.

* Kết quả khám nghiệm tử thi: Do sau khi xảy ra tai nạn, bà Nguyễn Thị T1 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện và tử vong, gia đình đã đưa đi hỏa táng nên không khám nghiệm được tử thi.

- Kết quả trưng cầu giám định pháp y tử thi:

Tại Công văn số 215/386/TTPY ngày 25/3/2024 của Trung tâm P trả lời: “Do không khám ngoài, không mổ pháp y tử thi nên Trung tâm P không có căn cứ trả lời nguyên nhân tử vong và không tiến hành các xét nghiệm bổ sung của nạn nhân Nguyễn Thị T1”.

- Kết quả trưng cầu giám định pháp y tử thi qua hồ sơ

Tại bản Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 38/39/KLTTHS-TTPY ngày 24/5/2024 của Trung tâm P - Sở Y1, xác định:

1. Các kết quả chính:

- Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt.

+ Kết quả Cắt lớp vi tính sọ não độ dày các lát cắt 5mm trên và dưới lều, không tiêm thuốc cản quang hồi 06 giờ 36 phút ngày 22/3/2024 của Bệnh viện B:

  • ✓ Hình ảnh chảy máu não dưới nhện lan rộng hai bán cầu, rải rác vài bóng khí nội sọ bán cầu não phải, chảy máu dưới màng cứng bán cầu não trái đè nhẹ đường giữa.
  • ✓ Đ1 giữa lệch nhẹ sang phải.
  • ✓ Trên cửa sổ xương hình ảnh vỡ xương thái dương phải.
  • ✓ Kết luận: Hình ảnh chảy máu não dưới nhện rộng, chảy dưới màng cứng, vỡ xương thái dương phải.

+ Kết quả Cắt lớp vi tính sọ não, không tiêm thuốc cản quang, độ dày các lát cắt 5mm, tái tạo mỏng 0.6~3mm hồi 08 giờ 49 phút ngày 22/3/2024 của Bệnh viện H:

  • ✓ Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái dày 14mm.
  • ✓ Xuất huyết dưới nhện các rãnh cuộn não bán cầu não hai bên.
  • ✓ T4 trán bên trái, thái dương hai bên có các ổ tụ máu, lớn nhất kích thước 25mm x 11mm, phù não xung quanh.
  • ✓ Đường giữa lệch phải 11mm.
  • ✓ T5 máu quanh mỏm răng, ngoài màng cứng tủy cổ cao, dày nhất 3mm.
  • ✓ Hệ thống não thất mất cân đối, không giãn. Dịch não tủy đồng nhất.
  • ✓ Phù nề, tụ máu phần mềm vùng đỉnh - thái dương bên phải, hàm mặt bên phải.
  • ✓ Đ1 vỡ xương đỉnh bên phải lan xuống xương thái dương vào thành ngoài các xoang chũm, thành trước ống tai ngoài, đến ống động mạch cảnh trong, thành sau xoang bướm bên phải gây tụ máu trong các xoang, các hòm ống tai.
  • ✓ Đ1 vỡ xương đỉnh bên phải lan xuống xương trán, thành ngoài ổ mắt bên phải.

+ Kết quả Cắt lớp vi tính hàm mặt, không tiêm thuốc cản quang, độ dày các lát cắt 5mm, tái tạo mỏng 0.6-3mm hồi 08 giờ 50 phút ngày 22/3/2024:

  • ✓ Phù nề, tụ máu phần mềm vùng đỉnh - thái dương bên phải, hàm mặt bên phải.
  • ✓ Đ1 vỡ xương đỉnh bên phải lan xuống xương thái dương vào thành ngoài các xoang chũm, thành trước ống tai ngoài, đến ống động mạch cảnh trong, thành sau xoang bướm bên phải gây tụ máu trong các xoang, các hòm ống tai.
  • ✓ Đ1 vỡ xương đỉnh bên phải lan xuống xương trán, thành ngoài ổ mắt bên phải.

2. Kết luận:

Căn cứ bản Sao y Giấy chứng nhận thương tích số 11/CN-NĐTW ngày 12/4/2024 của Bệnh viện B; Sao y Bệnh án ngoại số 2400054699 của Bệnh viện H; Sao y Bệnh án mã bệnh nhân BN23103652 của Bệnh viện Đ2, tỉnh Vĩnh Phúc nhận định: Nạn nhân Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962, nhiều khả năng tử vong do: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt nặng.

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích vùng đầu, mặt nhiều khả năng do va đập vào vật tày với lực tác động mạnh gây nên.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Khám nghiệm xe máy điện, biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24:

  • Khám nghiệm phía trước xe: Góc dưới ốp nhựa đầu xe để lại vết trượt in hình vân, kích thước (10x3)cm, điểm gần nhất vết trượt cách trục bánh trước bên phải xe 3cm, điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất 56cm.
  • Khám nghiệm phía sau xe: Mặt ngoài cạnh bên phải biển số xe để lại vết trượt, kích thước (1,5x0,2)cm. Điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất 44cm, điểm cao nhất cách vết trượt 45,5cm. Góc phía trên cạnh bên phải biển số xe để lại vết trượt, kích thước (2x0,2)cm, đồng thời phần kim loại tại vị trí vết trượt bị cong gập theo hướng từ trước về sau từ phải qua trái, kích thước vị trí cong gập (3,5x1,5)cm, điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất 45cm, điểm cao nhất vết trượt cách mặt đất 47cm. Điểm thấp nhất vị trí cong gập cách mặt đất 46cm, điểm cao nhất 49cm. Phần ốp nhựa gắn biển số xe phía sau bị nứt vỡ kích thước (10x1)cm. Mặt ngoài góc bên phải ốp nhựa gắn biển số xe phía sau để lại vết trượt, kích thước (2,5x0,5)cm. Điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất 47cm, điểm cao nhất vết trượt cách mặt đất 49,5cm.
  • Khám nghiệm bên phải xe: Không có dấu vết liên quan đến vụ tai nạn.
  • Khám nghiệm bên trái xe: Mặt ngoài cạch bên trái phần đáy chân trống phụ để lại chất bám dính màu trắng, đồng thời để lại vết trượt xước, kích thước (1x0,1)cm. Điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất 18,5cm. Điểm gần nhất vết trượt cách trục bánh sau bên trái xe 47cm.
  • Khám nghiệm thanh kim loại (cáng xe): Mặt trên thanh kim loại không có dấu vết. Góc trên thanh kim loại gần vị trí gắn lò so để lại vết trượt bám dính chất màu trắng, kích thước (0,4x0,4)cm.

- Khám nghiệm xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát: 15R-049.94:

  • Khám nghiệm phía trước xe: Không có dấu vết liên quan đến vụ tai nạn.
  • Khám nghiệm phía sau xe: Không có dấu vết liên quan đến vụ tai nạn.
  • Khám nghiệm bên trái xe: Không có dấu vết liên quan đến vụ tai nạn
  • Khám nghiệm bên phải xe: Mặt ngoài ốc kim loại trục bánh trước, bên phải đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 để lại vết trượt sạch bụi, đồng thời trên bề mặt vết trượt để lại chất bám dính màu trắng, kích thước (1,5x0,2)cm. Điểm gần nhất vết trượt trên bề mặt ốp kim loại cách ký tự T của dòng chữ TUBLESS được in trên bề mặt lốp, mặt ngoài bên phải phía trước đầu kéo 17cm và cách vị trí chân van bánh xe này 35cm theo chiều kim đồng hồ. Mặt ngoài lốp xe phía trước bên phải ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 để lại vết trượt sạch bụi hướng từ trước về sau, kích thước (59x2)cm. Điểm gần nhất vết trượt cách vị trí chân van 40cm, theo chiều ngược kim đồng hồ. Mặt ngoài vành xe phía trước bên phải đầu kéo để lại vết trượt bám dính chất màu trắng, kích thước (4,5x2)cm, điểm gần nhất vết trượt cách vị trí chân van 34cm theo chiều kim đồng hồ. Kiểm tra vỏ Contener được trở trên rơ móoc biển kiểm soát: 15R-049.94 không có hàng hóa bên trong.

Tại Kết luận giám định số 2614/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của V - Bộ C1 kết luận:

  1. “1. Dấu vết va chạm giữa xe ôtô đầu kéo biển số 15C-114.36 kéo theo rơ moóc biển số 15R-049.94 với xe máy điện biển số 29MĐ1-187.24.

    Dầu vết trượt xước, mất chất màu nâu, chất màu xám, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài la zăng vành bánh trước và ốc bắt la zăng vành bánh trước bên phải đầu xe ôtô đầu kéo biển số 15C-114.36 kéo theo rơ moóc biển số 15R-049.94 có chiều ngược chiều chuyển động quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết biến dạng, trượt xước, mất chất màu trắng, bám dính chất màu nâu, chất màu xám ở mặt ngoài bên phải khung kim loại bảo vệ biển số sau xe máy điện biển số 29MĐ1-187.24. Dấu vết va chạm ở xe máy điện biển số 29MĐ1-187.24 tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái.

  2. 2. Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường tại hiện trường giữa xe ôtô đầu kéo biển số 15C-114.36 kéo theo rơ moóc biển số 15R-049.94 với xe máy điện biển số 29MĐ1-187.24 thuộc phần đường bên trái theo chiều từ xã Đ đi xã T trên đường B.
  3. 3. Không xác định được tốc độ của xe ôtô đầu kéo biển số 15C-114.36 kéo theo rơ moóc biển số 15R-049.94 và xe máy điện biển số 29MĐ1-187.24 khi tai nạn.
  4. 4. Không xác định được 02 dấu vết C1, C2 tại hiện trường là do bộ phận cụ thể của phương tiện nào tạo ra”.

*Kết quả định giá tài sản:

Theo Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận:

  • Giá trị tài sản bị thiệt hại phần hư hỏng của chiếc xe ô tô đầu kéo, BKS: 15C-114.36 kéo theo rơ moóc, BKS: 15R-049.94 là 110.000 đồng (Một trăm mười nghìn đồng).
  • Giá trị tài sản bị thiệt hại phần hư hỏng của chiếc xe máy điện, BKS: 29MĐ1-187.24 là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm: 01 (Một) xe máy điện, biển kiểm soát: 29MĐ1-187.24; 01 (Một) xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 15C-114.36 kéo rơ móoc biển kiểm soát: 15R-049.94; 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng FC số: [...] mang tên Vũ Hữu Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày: 13/12/2021.

Đối với xe máy điện, biển kiểm soát 29MĐ1-187.24, quá trình điều tra xác định: chiếc xe trên là tài sản của bà T1 nên Cơ quan điều tra Công an huyện M đã trao trả cho người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1.

Đối với xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ mooc biển kiểm soát: 15R-049.94, quá trình điều tra xác định: đây đều là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T6. Tra cứu vật chứng theo biển kiểm soát, số khung, số máy không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng nên Cơ quan điều tra Công an huyện M đã trao trả cho người đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn T6.

Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSÐA ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã quyết định truy tố bị cáo Vũ Hữu Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Phiên tòa:

Bị cáo Vũ Hữu Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ông Trần Bình T2 trình bày: Công ty TNHH T6 và vận tại Đ không có ý kiến gì về nội dung vụ án và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho Công ty. Công ty đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Vũ Hữu Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và trả lại cho bị cáo Đ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, bị cáo Vũ Hữu Đ (Có giấy phép lái xe ô tô hạng FC) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-114.36 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 15R-049.94 theo hướng từ xã T đi xã Đ. Khi đi đến đoạn Km11+380 đường B thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội, Đ phát hiện thấy phía trước bên phải chiều đi có 01 xe máy điện biển kiểm soát 29MÐ-187.24 đỗ chếch đầu vào trong, đuôi xe hướng ra đường, bà Nguyễn Thị T1 đứng ở cạnh xe máy điện. Lúc này, Đ điều khiển xe ô tô đi với tốc độ 34km/h nhưng do thiếu chú quan sát, không làm chủ tốc độ nên phần ốc bắt la zăng vành bánh trước bên phải xe ô tô va chạm với với khung kim loại bên phải của biển số xe máy điện biển kiểm soát 29MĐ-187.24 làm chiếc xe máy điện, cáng và hoa trên xe máy điện bị đổ văng về hướng xã Đ, đồng thời đẩy bà T1 đang đứng cạnh xe ngã văng xuống đường. Hậu quả: bà Nguyễn Thị T1 bị thương, được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong ngày 23/3/2024.

Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Hữu Đ đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Điều luật sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người...

[2] Hành vi điều khiển xe ô tô thiếu chú ý quan sát của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm bà Nguyễn Thị T1 chết là vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Bà T1 khi đỗ xe trên đường bộ đã không cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy mà đỗ một phần xe ở trên đường xe chạy là vi phạm Điểm b Khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ. Như vậy trong vụ tai nạn giao thông nêu trên có lỗi hỗn hợp, người bị hại cũng có lỗi.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã khắc phục hậu quả cho người nhà nạn nhân, gia đình nạn nhân đề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng tại xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương nên thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng phù hợp với Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử xét vụ việc xảy ra là lỗi hỗn hợp nên không áp dụng hình phạt bổ sung Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Vũ Hữu Đ đã bồi thường gia đình nạn nhân số tiền 180.000.000đ. Gia đình nạn nhân đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác về dân sự và Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 không yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng FC, xét đây là giấy tờ nhân thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an M, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố: bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào Điểm a, Khoản 1 Điều 260, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Hữu Đ 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự; vật chứng; án phí:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Về trách nhiệm dân sự: Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã nhận được bồi thường và không có yêu cầu gì khác, Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Vũ Hữu Đ.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 03/THADS-CQĐT ngày 15/10/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội).

Bị cáo Vũ Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về phần có liên quan. Những người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Công an huyện Mê Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Mê Linh;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Hồng Lạc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thịnh Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HSST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 118/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Hữu Đ phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger