|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HSST |
Ngày 31/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và bà Trần Thị Thanh Thủy
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2024/TLST - HS ngày 04/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST - HS ngày 15/10/2024 đối với:
*Bị cáo: Nguyễn Đình T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/11/1986 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông: Nguyễn Minh T1, sinh năm 1961; Con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963;
Có vợ: Lò Thị Quyết sinh năm 1992, (đã ly hôn) Con: có 2 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: tại Quyết định số 24/2019/QĐ-TA ngày 15/10/2019 của TAND huyện Đông Hưng, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, thời gian 02 năm. Tuân chấp hành xong ngày 02/12/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
*Người chứng kiến:
1.Ông Nguyễn Duy L sinh năm 1972
2.Ông Nguyễn Đình D sinh năm 1965,
Cùng cư trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo được trích xuất có mặt những người chứng kiến đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và nghe bạn bè nói ở khu vực gần cây xăng thuộc địa phận xã Đ có người bán ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, Nguyễn Đình T đi bộ từ nhà ở thôn Đ, xã Đ ra trục đường xã đi nhờ xe của một người qua đường không quen biết đến khu vực cây xăng ở Quốc lộ C thuộc địa phận xã Đ mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T xuống xe đi bộ theo hướng về nghĩa trang Đ, cách khu vực cây xăng khoảng 100 mét thì gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, không biết tên, địa chỉ đứng ở cạnh ven đường, T lại gần hỏi “Bán cho em 270.000 đồng ma túy đá” và đưa tiền cho người này, người này nhận tiền và đưa lại cho T 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt là ma túy đá; T cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay phải, sau đó đi bộ quay lại đi nhờ xe mô tô của 01 người qua đường không quen biết mục đích về nhà để sử dụng. Khi đến trục đường thôn Đ, xã Đ, T xuống xe đi bộ để về nhà thì bị tổ công tác của Công an xã Đ phát hiện, nghi ngờ T có liên quan đến ma túy, yêu cầu T dừng lại để kiểm tra. Cơ quan Công an đã mời ông Nguyễn Duy L và ông Nguyễn Đình D chứng kiến; sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ, trước sự chứng kiến của mọi người, T đã tự nguyện lấy từ lòng bàn tay phải giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, T khai là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Tiến hành kiểm tra người Tuân không thu giữ, quản lý gì khác. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đình T không phát hiện, thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 1038/KL- KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3648 gam (Không phẩy ba nghìn sáu trăm bốn mươi tám gam) (Bút lục số 46);
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 108/CT-VKSĐH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bị cáo mức hình phạt từ 01(một) năm 09(chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.
Tại phiên tòa: Bị cáo T xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.
Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:
Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 108/CT-VKSĐH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 13 giờ 15 phút ngày 03/7/2024 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ; Bản kết luận giám định số 1038/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3648 gam (Không phẩy ba nghìn sáu trăm bốn mươi tám gam); Lời khai của những người chứng kiến ông Nguyễn Duy L và ông Nguyễn Đình D cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 03/7/2024 tại trục đường thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Đình T, có hành vi tàng trữ trái phép 0,3648 gam (Không phẩy ba nghìn sáu trăm bốn mươi tám gam) ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, bị Công an xã Đ, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bản thân là người có nhân thân xấu, đã bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc do nghiện ma tuý, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mét møcn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người đàn ông đeo khẩu trang, không biết tên, địa chỉ đứng ở cạnh ven đường, Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về nguồn gốc số tiền 270.000 đồng dùng vào việc mua ma túy là do bị cáo lao động mà có nên không truy thu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 02(hai) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1038/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,3056 gam (Không phẩy ba nghìn không trăm năm mươi sáu gam) ma túy loại Methamphetamine, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 04/10/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 31/10/2024.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Thị Nhung |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Tuân- Tàng trữ trái phép chất ma túy
