Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v không công nhận quan hệ vợ chồng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Doanh.
  • Bà Nguyễn Thị Công Mừng.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 327/2024/TLST-HNGD ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị V (V1), sinh năm 1979; trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1976; trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07-8-2024, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và Trần Thị V trình bày:

Bà và ông Phạm Văn H kết hôn với nhau vào năm 1997, trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn B, xã T, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, từ đầu năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con chung nên thường xuyên xảy ra to tiếng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Bà và ông Phạm Văn H có 03 con chung là Phạm Trung T, sinh ngày 07/02/1998; Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009. Hiện con chung là Phạm Trung T đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lao động nuôi sống được bản thân nên bà không có đề nghị gì. Con chung là Phạm Thị Đoan T1 và Phạm Châu Gia L có nguyện vọng ở cùng bà nên bà nhận nuôi hai con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung cùng bà.

Về tài sản, công nợ chung: Bà đề nghị để bà và ông H tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 09-8-2024, bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:

Ông và bà Trần Thị V kết hôn với nhau vào năm 1997, trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn B, xã T, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, từ đầu năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con chung nên thường xuyên xảy ra to tiếng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà V đề nghị không công nhận ông và bà V là vợ chồng thì ông đồng ý.

Về con chung: Ông và bà Trần Thị V có 03 con chung là Phạm Trung T, sinh ngày 07/02/1998; Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009. Hiện con chung là Phạm Trung T đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lao động nuôi sống được bản thân nên ông không có đề nghị gì. Con chung là Phạm Thị Đoan T1 và Phạm Châu Gia L có nguyện vọng ở cùng bà V, bà V nhận nuôi hai con và không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con chung cùng thì ông nhất trí và không có ý kiến gì.

Về tài sản, công nợ chung: Ông đề nghị để ông và bà V tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại UBND xã T, huyện L về quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị V với ông Phạm Văn H, đại diện UBND xã T đã cho biết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H chung sống với nhau từ năm 1997 tại thôn B, xã T, huyện L là đúng. Qua ra soát sổ sách từ năm 1999 đến nay không có thông tin đăng ký kết hôn của bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H.

Về mâu thuẫn của bà V, ông H: Qua nắm bắt tình hình thì vợ chồng bà V, ông H có mâu thuẫn và đã ly thân. Nguyên nhân cụ thể ra sao thì địa phương không rõ.

Về con chung và điều kiện nuôi con: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H có 03 con chung là Phạm Trung T, sinh ngày 07/02/1998; Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009; hiện nay cháu T đã lớn và đi làm, cháu T1 và cháu L vẫn đi học. Hộ bà V, ông H là lao động tự do, không phải hộ nghèo tại địa phương, có nơi ở ổn định. Theo địa phương xác định bà V, ông H đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị V và bị đơn ông Phạm Văn H đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của bà V, ông H trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51, 53, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V: Không công nhận bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho bà Trần Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Toà án. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Phạm Văn H. Ông Phạm Văn H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị V khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Phạm Văn H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn và qua xác minh tại địa phương thì được biết bà V, ông H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 và có 03 người con chung nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Do đó có đủ căn cứ để xác định bà V và ông H không đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H không được pháp luật công nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H có phát sinh mâu thuẫn, phía nguyên đơn bà V đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông H. Bị đơn ông Phạm Văn H cũng xác định ông và bà V có mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con. Bà V đề nghị Toà án giải quyết thì ông đồng ý nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

3.2 Về con chung: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H có 03 con chung là Phạm Trung T, sinh ngày 07/02/1998; Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009. Nay con chung là Phạm Trung T, sinh ngày 07/02/1998 đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lao động nuôi sống được bản thân nên bà V, ông H không có đề nghị. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với con chung là Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009 đều có nguyện vọng ở cùng bà V. Bà V và ông H cùng nhất trí để bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con cung là Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009 nên cần giao 02 con chung cho bà V nuôi dưỡng là đảm bảo quy định tại các Điều 15, 81,

82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H không đề nghị nên Toà án không xem xét, giải quyết.

3.3 Về tài sản chung, công nợ chung: Bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H cùng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V: Không công nhận bà Trần Thị V và ông Phạm Văn H là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Phạm Thị Đoan T1, sinh ngày 04/10/2007 và Phạm Châu Gia L, sinh ngày 16/5/2009 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Toà án. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Phạm Văn H. Ông Phạm Văn H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Bà Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận bà Trần Thị V đã nộp đủ theo Biên lai thu số: 0006318 ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - Cổng thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị V - Phạm Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger