Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/8/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Trọng Kim
  2. Bà Nguyễn Thị Bình

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 146/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1990
    Nơi cư trú: số B đường số E, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bị đơn: Hoàng Anh V, sinh năm: 1986
    Nơi cư trú: đường số I (số mới đường số D), thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa: có mặt nguyên đơn, bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2024, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị và anh V tự nguyện tìm hiểu rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ từ năm 2014. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là:

  • + Do mẹ chồng xúc phạm chị: mẹ chồng chị luôn nói con gái lớn của chị không phải cháu nội của bà, mà cháu bà hàng xóm, bà nói rất nhiều lần trước mặt cháu, mặc dù chị đã giải thích nhiều lần cho bà; ngoài ra bà còn thường xuyên soi mói, nói xấu chị với chồng chị và hàng xóm.
  • +Anh V có tính gia trưởng, thường xuyên áp đặt chị theo ý kiến của anh và dùng lời lẽ thô tục xúc phạm chị: Anh V không có chính kiến mà chỉ nghe lời mẹ, rồi chửi mắng chị, đe dọa khi về nhà sẽ cắt cổ chị;
  • + Anh V đánh đập chị 3 lần, còn đuổi chị ra khỏi nhà.

-Về con chung: Anh chị có 02 con chung: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022. Hiện nay 02 con đang ở cùng chị Đ (từ tháng 12 năm 2023). Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi 02 con, chị yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.000.000đồng/tháng/con.

Về nghề nghiệp: Chị Đ đang làm nhân viên y tế kiêm thủ quỹ tại trường M tại xã Đ, thu nhập trung bình 7.500.000đồng/tháng.

Tai phiên tòa chị Đ không đồng ý việc anh V có nguyện vọng nuôi con gái lớn, vì lý do sau:

  • -Khi chị và anh ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, thì anh V không quan tâm, anh chỉ đóng tiền học thêm cho con 1.000.000đồng; 01 thùng sữa; 01 bịch bỉm (số tiền này là do anh V mượn heo đất của con, nay anh mua để trả lại tiền đã mượn của con). Ngoài ra không hỗ trợ bất cứ tiền hoặc vật chất khác để chị nuôi con.
  • - Con lớn của anh chị đã trên 7 tuổi, cháu đã có nguyện vọng ở với chị.
  • - Anh V đi làm cách nhà 60km, nếu giao con cho anh V thì anh V sẽ nuôi con ở đâu?, không ai trông nom, chăm nom, đưa đón. Không đảm bảo ăn uống, đi học.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa. Bị đơn Hoàng Anh V trình bày:

-Về hôn nhân: Về quá trình kết hôn thì chị Đ trình bày hoàn toàn đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn:

  • +Anh thừa nhận trong thời gian chung sống cùng nhau thì anh có đánh chị 2 lần (đánh mấy bạt tay), vợ chồng có mâu thuẫn nhỏ không đáng kể.
  • +Việc mâu thuẫn của chị Đ và mẹ đẻ của anh là do do mẹ anh không biết chữ, bà chỉ nói đùa cháu nhưng chị Đ ghim gút.

Nay anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đ. Vì anh không muốn các con anh chị thiếu cha, thiếu mẹ

-Về con chung: Anh chị có 02 con chung: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022. Nếu chị Đ cương quyết ly hôn thì anh yêu cầu được quyền nuôi cháu Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016, còn chị Đ nuôi cháu Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa anh V không đồng ý giao 02 con cho chị Đ nuôi dưỡng, vì: khi ly thân, chị Đ nuôi 02 con, anh có đến thăm nom con nhưng chị Đ cấm cản, không cho anh thăm nom con.

Về nghề nghiệp: Anh V hiện làm nhân viên bảo vệ rừng tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, thu nhập trung bình 8.000.000đồng/tháng. Ngoài ra anh còn có có thêm các thu nhập khác như: ngày nghỉ anh về gia đình đi giữ xe dịch vụ; môi giới bất động sản.

-Về tài sản chung: Chị Đ yêu cầu Tòa án chia giá trị căn nhà 8m x 30m do vợ chồng anh chị xây dựng trên đất của cha mẹ anh V cho nhưng chưa tách thửa, cùng các vật dụng sinh hoạt trong gia đình. Đến ngày 12/8/2024 chị Đ có đơn yêu cầu xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung.

-Về nợ chung: anh chị Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn, Bị đơn cấp hành đúng pháp luật.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đ là có căn cứ và đúng pháp luật.

-Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022 cho chị Đ là được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục

-Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.000.000đồng/tháng/con cho đến khi các con tròn đủ 18 tuổi

-Về tài sản chung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ tranh chấp chia tài sản chung.

-Về nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2024 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Hoàng A V có đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2014 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh. Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến cuối năm 2023 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn từ việc chị Đ mâu thuẫn với mẹ chồng và anh V. anh V lại không biết chia sẻ, động viên mà còn đánh chị nhiều lần (02 lần). Vì vậy anh chị thường xuyên cãi nhau, làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị Đ xác định không còn tình cảm với anh V nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ là đúng theo quy định tại Điều 51 và khoản 1, Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia đình; khoản 1, 3 Điều 4 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao.

[5] Về con chung: Xét thấy hiện tại hai con: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022 đang ở cùng chị Đ từ khi ly thân cho đến nay. Cháu Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 hiện đã trên 7 tuổi, lại là cháu gái, cháu có bản tự khai là có nguyện vọng được ở với mẹ; Cháu Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022 dưới 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử giao cho chị Đ nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy chị Đ là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022 cho chị Nguyễn Thị Đ được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1, 2 Điều 6 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[6]Về cấp dưỡng nuôi con:

Xét về mức cấp dưỡng: Chị Đ yêu cầu anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng/con. Hội đồng xét xử thấy rằng mức yêu cầu cấp dưỡng này là phù hợp với mức sống trung bình tại địa phương và khả năng thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận mức 2.000.000đồng/tháng/con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao

Anh Vũ hiện nay là người có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định.Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con theo mức quyết định của Hội đồng xét xử là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật

[6] Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu “chia tài sản khi ly hôn” của chị Nguyễn Thị Đ.

[7] Về chi phí định giá, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 2.100.000đồng (chị Đ đã nộp số tiền này)

[ 8] Về nợ chung: Anh chị không tranh chấp. Vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[9]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị Đ là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định. Anh Hoàng Anh V phải chịu án phí về việc cấp dưỡng nuôi con.

[10] Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

[11] Xét ý kiến của Kiểm Sát V1 về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Áp dụng Điều 51 và Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 107, 108, 110, 116,117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; khoản 3 Điều 4, khoản 1, 2 Điều 6, khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ ly hôn anh Hoàng Anh V.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hai con: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022
    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con:
    Buộc anh Hoàng Anh V phải cấp dưỡng nuôi 02 con: Hoàng Nguyễn Thanh T, sinh ngày 22/01/2016 và Hoàng Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/10/2022, mỗi tháng là 2.000.000đồng/tháng/con, kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi các con tròn đủ 18 tuổi.
    Chị Nguyễn Thị Đ có quyền yêu cầu thi hành án ngày sau khi xét xử sơ thẩm đối với số tiền anh Hoàng Anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Hoàng Anh V có nghĩa vụ thi hành ngay số tiền Tòa án buộc phải cấp dưỡng nuôi con theo đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Đ.
    Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu thi hành án về số tiền cấp dưỡng nuôi con thì anh Hoàng Anh V còn phải chịu lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu “tranh chấp chia tài sản khi ly hôn” trong đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 của chị Nguyễn Thị Đ.
  5. Về chi phí định giá, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 2.100.000 đồng (chị Đ đã nộp số tiền này).
  6. Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc ly hôn, nhưng được trừ vào trong số tiền tạm ứng án phí 4.050.000đồng mà chị Đ đã nộp tại biên lai số 0004402 ngày 10/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị Nguyễn Thị Đ được hoàn trả số tiền 3.750.000đồng còn lại trong biên lai số 0004402 ngày 10/4/2024 .
    Anh Hoàng Anh V phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con. Án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
  7. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 28/8/2024 để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  8. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Thi hành án DS huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Đức Hạnh
  • - Các đương sự;.
  • - Lưu hồ sơ, quyết định./.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger