Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày: 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Thị Amina;

Ông Bùi Đắc Nghĩa.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Giàu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Thanh B, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay (có mặt).
  2. Nguyễn Thanh X (Bờm), sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Ngọc G; có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N, chưa có con; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2023/HS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 50.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”, chưa chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay (có mặt).
  3. Nguyễn Hoàng A (H), sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Thái Thị Mỹ T2; có vợ là Lâm Thị Ngọc Á (chưa đăng ký kết hôn) và 01 người con sinh năm 2020; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2022/HS-ST ngày 22/11/2022, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/12/2022, chưa được xoá án tích; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay (có mặt).
  4. Nguyễn Văn L (L), sinh năm 1983 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Bùi Thị T3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 17/01/2024, X đến vườn cao su của B1 tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để chơi và trút mủ cao su phụ B1. Trong khi đang trút mủ thì B1 rủ X sử dụng ma túy và X đồng ý. X điện thoại cho Hoàng A hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì Hoàng A đồng ý bán và kêu B1 chuyển tiền vào tài khoản M1 tên Nguyễn Hoàng A. B1 chuyển cho Hoàng A 190.000 đồng (bị trừ 10.000 đồng tiền đăng ký ứng dụng) rồi đi đến chòi cao su của Hoàng A thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để lấy ma túy nhưng không gặp Hoàng A. X gọi điện thì Hoàng A kêu L lấy ma túy giao cho X. Sau đó, X được L giao cho 01 bịch nylon bên trong có chứa ma túy rồi mang về chòi rẫy của B1. Tại đây, B1 mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, X đổ hết ma túy vào nỏ rồi cùng B1 sử dụng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, cả hai bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra phát hiện và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, trước đó X và B1 đã nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Hoàng A cũng đã nhiều lần bán ma túy cho X, B1 sử dụng cụ thể như sau:

Vào khoảng cuối tháng 12/2023, X mua của Hoàng A 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng rồi mang đến chòi rẫy của B1 để cùng B1 sử dụng. B1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình đưa cho X đổ ma túy vào rồi cùng nhau sử dụng hết số ma túy này.

Vào đầu tháng 01/2024, B1 mua của Hoàng A 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng rồi mang về chòi rẫy của mình sử dụng một mình hết số ma túy này.

Ngày 12/01/2024, B1 mua của Hoàng A 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng rồi mang về chòi rẫy của mình để sử dụng. Trong lúc B1 đang sử dụng thì X đến chơi. B1 rủ X sử dụng ma túy thì X đồng ý. B1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có sẵn ma túy của mình đưa cho X sử dụng, cả hai cùng nhau sử dụng hết số ma túy này.

Nguồn gốc số ma túy mà Hoàng A bán cho X và B1 là do Hoàng A mua của người tên B2, khoảng 30 tuổi, nhà ở khu vực vườn ươm thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; đồng thời khai nhận các lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 17/01/2024 đối với B, X thể hiện cả hai dương tính với ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 143/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 01 (một) nỏ thủy tinh (kí hiệu M) bên trong 01 bì thư gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng không xác định được vì mẫu ở dạng vì vết.

Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSTC ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội “Mua bán trái chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị:

  • Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh B từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
  • Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh X từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm tù đến 03 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo đều không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 12/2023 đến ngày 17/01/2024, trên địa bàn huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Hoàng A đã 04 lần có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho B và X sử dụng, thu lợi bất chính được 900.000 đồng. Bị cáo L đã 01 lần thực hiện hành vi giúp sức cho Nguyễn Hoàng A bán trái phép chất ma túy B, X sử dụng. Ngoài ra, tại chòi cao su của mình, B đã 03 lần tổ chức cho Nguyễn Thanh X sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó, B và X đã 02 lần cùng nhau tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Loại ma túy các bị cáo B, X sử dụng là Methamphetamine, khối lượng không xác định được vì mẫu còn lại ở dạng vì vết. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân và để thu lợi bất chính mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng:

[4.1] Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Các bị cáo B, X chỉ phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Mặc dù bị cáo B là người chủ động khởi xướng, rủ rê bị cáo X sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và nơi sử dụng cho bị cáo X sử dụng, lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo X nhưng bị cáo X phạm tội trong trường hợp tái phạm nên cả hai bị cáo này phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau.

[4.2] Đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy: Các bị cáo Hoàng A, L cũng chỉ phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo Hoàng A là người phạm tội nhiều lần, nhờ bị cáo L đi giao ma túy giùm mình một lần nên chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo L.

[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo B, X, Hoàng A đều tự thú về hành vi phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo X, Hoàng A tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo B, L không có.

[6] Xét thấy, với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

[8.1] Đối với các dụng cụ dùng để phân chia và sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với: 02 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo B, X đều là công cụ phạm tội, cần tịch thu vào Ngân sách nhà nước.

[8.3] Cần truy thu số tiền 900.000 đồng là tiền bị cáo Hoàng A thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách Nhà nước.

[9] Đối với người tên B2 có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng A, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm việc xác định được sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh B 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/5/2024.
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh X (Bờm) 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/5/2024.
  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A (H) 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/8/2024.
  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L (L) 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/8/2024.
  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bì thư được niêm phong ghi số 143, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, Trợ lý Giám định viên Nguyễn Thị Thùy D và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 nỏ thủy tinh (ký hiệu M1); 01 cân tiểu ly; 01 quẹt gaz; 03 đoạn ống hút nhựa được hàn kín một đầu.
    2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo số Imei 2: 800975 thu giữ của bị cáo Trần Thanh B; 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1: 624355 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh X (Bờm).
    3. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng A (H) phải nộp lại số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách Nhà nước.

    (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2024).

  6. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Thanh B, Nguyễn Thanh X (Bờm), Nguyễn Hoàng A (H), Nguyễn Văn L (L) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND H.Tân Châu;
  • - CCTHA-DS H. Tân Châu;
  • - CQĐT Công an H. Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA phạt tù;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh B cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger