|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2023/HS-PT Ngày: 17-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Lê Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 112/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo Vũ Thành L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2023/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Bị cáo có kháng cáo: Vũ Thành L, sinh năm 1993, tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công L1 và bà Trần Thị T; có vợ Ka T1 và 03 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 04 - 05 năm 2022, Ninh Văn Đ rủ Vũ Thành L, Trần Văn Q, Ninh Văn Đ1 và Lý Anh K đi vào khu vực rừng giáp ranh giữa xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và xã T, huyện H, thuộc Tiểu khu A, đối tượng rừng phòng hộ, thuộc lâm phần của Ban Q3 để khai thác cây gỗ rừng, chủng loại lim xanh bán lấy tiền tiêu xài. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chứng minh được Đ, L, Q, Đ1, Q1 và K đã khai thác được 05 cây gỗ rừng, chủng loại lim xanh trong vòng 04 chuyến (theo lời khai của L và Q). Cụ thể như sau:
Chuyến thứ nhất: Vào khoảng giữa tháng 4/2022, tại quán cà phê Đ nói: “Đang đi làm hàng Lim ở trong khu vực tỉnh Bình Thuận giáp ranh với xã G, huyện D” rồi rủ L và Q đi khai thác gỗ Lim bán kiếm tiền tiêu xài thì L và Q đồng ý. Cả ba hẹn nhau khoảng 02 ngày sau sẽ tập trung tại chòi của Đ ở xã G để đi khai thác gỗ. Đoàn biết ông Nguyễn Văn H, có nhu cầu mua gỗ để sử dụng nên Đ nói với ông H là Đ có cây gỗ trong vườn ở xã G, huyện D cần bán, ông H biết Đ có vườn ở xã G, huyện D nên ông H tin tưởng, nghĩ là gỗ của Đ, ông H hỏi giá bán thì Đ nói là: “15.000.000 đồng một khối”, ông H đồng ý mua. Đến ngày hẹn đi khai thác gỗ, L điều khiển xe máy, loại xe độ chế không có biển số mang theo 01 cây rựa, đèn pin đội đầu; L đi mua thức ăn và dụng cụ máy cưa; Q cũng điều khiển xe máy, loại xe độ chế không có biển số đi đến chòi của Đ ở xã G, huyện D. Tại chòi có Đ, Đ1, K và Q1. Sau đó, Đ, L, Q, Đ1, Q1 và K đi khai thác gỗ theo sự chỉ dẫn của Đ; khi đi mỗi người điều khiển 01 xe máy, loại xe máy độ chế, không có biển số; L mang theo thức ăn, cây rựa; Đ mang theo cưa máy và một cây dao phát. Trước khi đi khai thác gỗ, Đ sử dụng điện thoại gọi cho ông H, nói khoảng 02 – 03 giờ chạy vào K, xã G, huyện D để chở gỗ, ông H đồng ý. Sau đó, Đ dẫn L, Q, Đ1, Q1 và K đi đến đoạn Km 52, Quốc lộ B rồi đi vào khu vực rừng giáp ranh giữa xã T, huyện H và xã G, huyện D, thuộc Tiểu khu A, đối tượng rừng phòng hộ, thuộc lâm phần của Ban Q3. Đoàn, L, Q, Đ1, Q1 và K đi vào khu vực rừng mà Đ đã chọn từ trước, tất cả để xe môtô tại một bãi đất trống rồi ăn tối. Ăn xong, Đ đi tìm cây gỗ, chủng loại Lim xanh để khai thác; Đoàn chọn được 01 cây gỗ, chủng loại Lim xanh có đường kính khoảng 90cm; Đ, L, Q, Đ1, Q1 và K cầm rựa đi phát dọn cây xung quanh để dễ dàng vận chuyển gỗ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L lấy cưa máy của Đ cưa hạ cây gỗ Lim xanh mà Đ đã chọn, Lâm cưa được một lúc thì Đ và K vào thay phiên nhau cưa hạ cây. Sau khi cưa hạ cây ngã xuống, L, Đ và K thay phiên nhau cưa thành lóng; Q, Đ1 và Q1 dùng thước để đo, dùng dây búng mực và thay phiên nhau dịch chuyển gỗ để L, Đ và K cưa cây gỗ thành 04 lóng, trong đó 02 lóng dài 02m, 01 lóng dài 1,4m, 01 lóng dài 1,1m. Khi cưa thành gỗ hộp thì L, Đ và K thay phiên nhau cưa, cưa gỗ ra thành gỗ hộp lớn thì Q, Đ1 và Q1 dùng thước để đo, dùng dây búng mực để L, Đ và K cưa làm đôi và tiếp tục cưa làm bốn để dễ dàng vận chuyển. Cây gỗ Lim xanh trên được L, Q, Đ, Đ1, Q1 và K cưa thành 10 hộp gỗ lớn nhỏ (theo quy cách hàng sườn). Sau đó, Đ và K dùng thước đo để tính khối lượng gỗ được là 1,1m³. Sau khi cưa gỗ thành hộp xong, L, Q, Đ, Đ1, Q1 và K mỗi người dùng 01 chiếc xe máy độ chế vận chuyển tất cả hộp gỗ trên đến đoạn K, Quốc lộ B, thuộc địa phận xã G, huyện D để số gỗ trên ở đây. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày hôm sau, ông H điều khiển xe ôtô tải thùng, biển số 49C-212.03 của ông H chạy đến, Đoàn, L, Q, Đ1, Q1 và K bốc gỗ lên xe ôtô cho ông H, Đ nói với ông H tổng khối lượng gỗ là 1,1m³, ông H đồng ý mua với số tiền 16.500.000 đồng. Ông H nói số lượng gỗ này chưa đủ đóng tủ, khi nào có gỗ nữa thì gọi cho ông H. Sau khi bốc gỗ xong, ông H điều khiển xe ôtô chạy về hướng huyện D (ông H không biết số gỗ trên là do Đ cùng đồng bọn phạm tội mà có). Số gỗ này, ông H sử dụng đóng bàn thờ và tủ rượu nhưng do xưởng mộc nói gỗ cứng quá, không cưa được nên ông H đã bán cho người khác (không xác định được là bán cho ai). Đến chiều ngày hôm sau, Đ kêu L và Q ra quán cà phê ở huyện D để lấy tiền, Đ nói bán gỗ được 16.500.000 đồng, Đ hỏi L là tiền ăn, tiền mua dụng cụ máy cưa hết bao nhiêu tiền thì L nói hết 2.200.000 đồng, còn lại 14.300.000 đồng, Đ chia đều cho Đ, L, Q, Đ1, Q1 và K, mỗi người được 2.000.000 đồng, số tiền còn lại, Đ đưa cho L để đi mua thức ăn và dụng cụ để sử dụng khi đi khai thác gỗ ở các chuyến kế tiếp.
Các đối tượng tham gia khai thác cây gỗ thứ nhất gồm có: L, Q, Đ, Đ1, Q1 và K. Khối lượng gỗ bị thiệt hại qua giám định là: 2,839m³ (cây gỗ được đánh số thứ tự 01 trong kết luận giám định; ngày 17/5/2022, L và Q đã đi xác định hiện trường vị trí L và Q tham gia khai thác cây gỗ chủng loại Lim xanh trên).
Cũng tương tự như chuyến thứ nhất, các đối tượng Vũ Thành L, Trần Văn Q, Ninh Văn Đ, Song Hiến Q2, Ninh Văn Đ1 và Lý Anh K tham gia khai thác cây gỗ chủng loại Lim xanh, thêm ba chuyến sau:
Chuyến thứ hai: Sau chuyến thứ nhất khoảng 01 tuần lễ, khoảng ngày 21 và 22/4/2022, khối lượng gỗ bị thiệt hại qua giám định là: 2,636m³ (cây gỗ được đánh số thứ tự 03, 04 trong kết luận giám định; ngày 17/5/2022, L và Q đã đi xác định vị trí L và Q tham gia khai thác 02 cây gỗ chủng loại Lim xanh trên).
Chuyến thứ ba: Cách chuyến thứ nhất khoảng 02 tuần lễ. Khoảng giữa tháng 05/2022, khối lượng gỗ bị thiệt hại qua giám định là: 3,548m³ (cây gỗ được đánh số thứ tự 02 trong kết luận giám định; ngày 17/5/2022, L và Q đã đi xác định vị trí L và Q tham gia khai thác cây gỗ chủng loại Lim xanh trên).
Chuyến thứ bốn: Vào sáng ngày 13/5/2022, khối lượng gỗ bị thiệt hại qua giám định là: 3,813m³ (cây gỗ được đánh số thứ tự 05 trong kết luận giám định; ngày 17/5/2022, L và Q đã đi xác định vị trí L và Q tham gia khai thác cây gỗ chủng loại Lim xanh trên).
Kết luận giám định thiệt hại cây rừng tự nhiên bị khai thác trái pháp luật tại Tiểu khu A, thuộc lâm phận Ban Q3, địa giới hành chính xã T, huyện H số 05/KL-GĐV ngày 07/7/2022 của Giám định viên Hồ Văn P kết luận:...III. Những kết luận về thiệt hại tài nguyên rừng
1. Vị trí, địa điểm, chủng loại, số cây rừng bị khai thác trái pháp luật: Tổng số cây rừng tự nhiên bị khai thác trái pháp luật là: 20 cây, trong đó có 05 cây có đối tượng vi phạm nhận khai thác theo số thứ tự từ cây số 01 - 05 trong Biểu thống kê cây chặt hạ kèm theo biên bản giám định hiện trường. Chủng loại cây gỗ bị khai thác: Lim xanh. Nhóm gỗ bị khai thác: Nhóm 2. Toàn bộ số cây rừng bị khai thác trái pháp luật là cây rừng tự nhiên, nằm trong quy hoạch 03 loại rừng thuộc Tiểu khu A, thuộc địa giới hành chính xã T, huyện H, do Ban Q3 quản lý. Đối tượng rừng: Phòng hộ.
2. Khối lượng gỗ bị thiệt hại do khai thác trái pháp luật:
Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại: 42,159m³ (Bốn mươi hai phẩy một năm chín mét khối).
Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại đương sự nhận khai thác: 12,836m³ (Mười hai phẩy tám ba sáu mét khối).
Khối lượng gỗ bị thiệt hại theo từng cây: Cây số 01: 2,839m³; Cây số 02: 3,548m³; Cây số 03: 1,358m³; Cây số 04: 1,278m³; Cây số 05: 3,813m³; Cây số 06: 1,202m³; Cây số 07: 2,715m³; Cây số 08: 1,278m³; Cây số 09: 1,506m³; Cây số 10: 0,780m³; Cây số 11: 0,986m³; Cây số 12: 6,532m³ (cây 2 thân, 12A: 3,582m³; 12B: 2,950m³); Cây số 13: 0,987m³; Cây số 14: 1,495m³; Cây số 15: 1,353m³; Cây số 16: 1,613m³; Cây số 17: 3,709m³; Cây số 18: 2,146m³; Cây số 19: 1,827m³; Cây số 20: 1,194m³.
3. Công cụ để khai thác cây gỗ trái pháp luật: Qua xem xét mạch cắt mở miệng, cắt gáy, mặt cắt của gốc cây chặt hạ đa phần phẳng, khẳng định công cụ sử dụng chặt hạ cây rừng là cưa máy.
4. Thời gian chặt hạ: Căn cứ vết tích tại hiện trường, các tài liệu thu thập có liên quan thì thời gian khai thác cây rừng trái pháp luật trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022”.
Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Gỗ bị khai thác trái phép là 20 cây, chủng loại lim xanh với tổng khối lượng là 42,159m³, gỗ tròn thuộc loại gỗ nhóm 2. Thời điểm định giá tháng 4, tháng 5 năm 2022, có trị giá là 564.138.000 đồng (Năm trăm sáu mươi bốn triệu, một trăm ba mươi tám ngàn đồng). Cụ thể như sau: Cây số 01: 41.504.400đồng; Cây số 02: 53.319.600đồng; Cây số 03:14.666.400đồng; Cây số 04: 12.112.800đồng; Cây số 05: 52.398.600đồng; Cây số 06: 12.981.600đồng; Cây số 07: 37.934.400đồng; Cây số 08: 12.722.400đồng; Cây số 09: 15.290.400đồng; Cây số 10: 8.424.000đồng; Cây số 11: 10.648.800đồng; Cây số 12: 105.818.400đồng; Cây số 13: 10.659.600đồng; Cây số 14: 16.146.000 đồng; Cây số 15: 14.612.400đồng; Cây số 16: 17.420.400đồng; Cây số 17: 60.085.800đồng; Cây số 18: 34.765.200 đồng; Cây số 19: 19.731.600đồng; Cây số 20: 12.895.200 đồng.
Tổng trị giá thiệt hại 05 cây gỗ Lim xanh mà Vũ Thành L và Trần Văn Q khai nhận khai thác là 174.001.800 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2023/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, quyết định:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 232; khoản 4 Điều 232; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Vũ Thành L phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
Xử phạt bị cáo Vũ Thành L 07 (B) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Trần Văn Q 07 (Bảy) tháng tù; tuyên về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 22/9/2023, bị cáo Vũ Thành L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số 122/2023/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, về giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo (Ấn định thời gian thử thách và giải thích chế định án treo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian tháng 04 đến tháng 05 năm 2022, các bị cáo Vũ Thành L, Trần Văn Q và một số đối tượng đã cùng nhau đi vào Tiểu khu A, đối tượng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, thuộc lâm phần Ban Q3, địa phận hành chính xã T, huyện H khai thác trái pháp luật 05 cây gỗ Lim xanh, trong 04 chuyến, với khối lượng 05 cây gỗ mà L và Q khai thác là 12,836m³, tổng trị giá thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 174.001.800 đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử bị cáo tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Thành L xin giảm nhẹ hình phạt “Cải tạo không giam giữ”. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng và xử phạt bị cáo 07 tháng, ở mức thấp của khung hình phạt là có căn cứ, phù hợp và không nặng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đưa ra tình tiết, chứng cứ mới như: Bị cáo tự nguyện khắc phục thiệt hại thêm 47.000.000 đồng; là lao động chính nuôi cha, mẹ già, con nhỏ; vợ không có việc làm; hiện cha bệnh ung thư nặng; gia đình rất khó khăn; có nơi cư trú rõ ràng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản Điều 51 Bộ luật Hình Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở chấp nhận lí do kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Tiếp tục tạm giữ số tiền 47.000.000 đồng của bị cáo, để đảm bảo thi hành án.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2023/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, về giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo:
1. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 232; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Thành L phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
Xử phạt bị cáo Vũ Thành L 07 (Bảy) tháng tù và cho hưởng án treo; thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày 17 tháng 11 năm 2023.
Giao bị cáo Vũ Thành L cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 94 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019 nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Tiếp tục tạm giữ số tiền 47.000.000 đồng của bị cáo Vũ Thành L, theo biên lai thu tiền số 0004252 ngày 17 tháng 11 năm 2023, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Thành L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17 tháng 11 năm 2023).
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo nghe).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thành |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
|
Lê Minh Tuấn Nguyễn Lê Phương |
Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 118/2023/HS-PT ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 118/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của Vũ Thành L và cho hưởng án treo
