|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HS-PT
Ngày: 17/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu Hà. |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Long. |
| Bà Trương Thị Anh. |
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 102/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo: Nguyễn Thị T - sinh năm 1991 tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: P214 N15 Chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp:óa, H lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị N1; Chồng: Nguyễn Minh Đ - sinh năm 1991, có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1977. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Chị Lê Thị T1, sinh năm 1993. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: SN E đường T, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 2000. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Chị Lưu Thị Hoa N2, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ E T, quận S, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do đầu tư kinh doanh trên mạng Internet bị thua lỗ dẫn đến nợ nần và mất khả năng trả nợ, đến năm 2022 sẵn có kinh nghiệm về mua bán vé máy bay nên Nguyễn Thị T đã vào các trang, hội nhóm mua bán vé máy và tổ chức tour du lịch để liên lạc với những người có nhu cầu đặt tour du lịch, vé máy bay rồi đưa ra những thông tin gian dối và hứa hẹn để bị hại tin tưởng chuyển tiền mua vé máy bay cho mình, xuất vé trước, lấy tiền sau, nhưng thực tế Nguyễn Thị T không thực hiện như thỏa thuận. Khi có người chuyển tiền đặt vé, đặt tour thì Nguyễn Thị T đã chiếm đoạt tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: vào khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Thị T vào nhóm Hội mua bán vé máy bay giá rẻ trên mạng xã hội Facebook thấy chị Nguyễn Thị Kim L (sinh năm 2000, trú tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai) có đăng bài để tìm tour du lịch P, Nguyễn Thi T2 đã chủ động nhắn tin và tư vấn tour du lịch cho gia đình chị L nhưng chị L chưa đồng ý. Tư vấn không được, T2 nhờ chị Lưu Thị Hoa N2 (sinh năm 1990, ở quận S, thành phố Đà Nẵng) là bạn chung trên Facebook của T2 và chị L tác động với L. Khoảng 01 tháng sau chị L liên lạc với T2 và nhờ T2 tìm tour du lịch, L giới thiệu mẹ mình là chị Trần Thị H1 (sinh năm 1977, trú tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai) để giao dịch với T2. Giữa T2 và chị H1 thống nhất hợp đồng du lịch cho 07 người với tổng giá tiền là 27.300.000đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm nghìn đồng). Theo hợp đồng, ngày 27/8/2022 chị H1 chuyển đủ số tiền trên cho T2. Sau khi chuyển tiền, chị H1 yêu cầu T2 chuyển tài liệu chứng minh hợp đồng, nhưng do đã sử dụng số tiền trên vào mục đích cá nhân nên T2 đã thuê một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook làm giả phiếu thu của công ty D rồi chuyển cho chị H1, còn việc đặt tour du lịch như đã thỏa thuận thì T2 đã không thực hiện. Đến trước ngày đã hẹn 01 ngày, T2 mới liên lạc với gia đình chị H1 và thông báo với chị H1 là không đặt được tour du lịch và xin được hoàn lại tiền cho chị H1, nhưng T2 vẫn không thực hiện việc trả tiền nên L và chị H1 đã đến Công an thị trấn N trình báo vụ việc. Đến nay, Nguyễn Thị T đã trả hết số tiền trên cho chị H1.
- Lần thứ hai: Nguyễn Thị T vào hội nhóm mua bán vé máy bay trên mạng xã hội Facebook thì biết được chị Lê Thị T1 (sinh năm 1993, ở huyện T, tỉnh Thanh Hóa) có bán vé máy bay. Ngày 17/7/2022, Nguyễn Thị T liên lạc hỏi mua của chị Lê Thị T1 06 vé máy bay với giá tiền 72.508.000đ (bảy mươi hai triệu, năm trăm lẻ tám nghìn đồng). Chị Lê Thị T1 chuyển cho Nguyễn Thị T 06 vé máy bay như thỏa thuận. Nguyễn Thị T nói dối là chưa thu được tiền của khách và hẹn khi nào khách bay về sẽ thu và trả tiền cho chị Lê Thị T1 sau. Tuy nhiên, thực tế Nguyễn Thị T đã nhận được tiền của khách nhưng đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 19/7/2022 theo lịch hẹn trả tiền cho chị Lê Thị T1 nhưng do Nguyễn Thị T đã sử dụng hết tiền của khách vào việc cá nhân, không có tiền thanh toán nên đã thuê một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook làm giả hình ảnh chuyển khoản gửi cho Lê Thị T1 với số tiền 43.918.000đ (bốn mươi ba triệu, chín trăm mười tám nghìn đồng). Không nhận được tiền, chị Lê Thị T1 đã nhiều lần đòi nợ nhưng Nguyễn Thị T mới trả được 52.508.000đ (năm mươi hai triệu, năm trăm lẻ tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành sao kê tài khoản của bị cáo, bị hại thể hiện các giao dịch chuyển khoản chứng minh giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt. Cơ quan điều tra cũng tiếp nhận các tài liệu của bị hại, người làm chứng thể hiện việc bị cáo đưa ra thông tin gian dối để lừa các bị hại. Các tài liệu thu thập được phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại và người làm chứng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị Trần Thị H1 và Lê Thị T1 là 99.808.000đ (chín mươi chín triệu, tám trăm lẻ tám nghìn đồng).
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 BLHS. Điều 584, 585, 586, 589 BLDS.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Lê Thị T1 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 07/3/2024 bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và quyết định mức hình phạt 30 tháng tù đối với bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã thực hiện việc bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Lê Thị T1; xuất trình thêm biên lai ủng hộ hội nạn nhân chất độc màu da cam; tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình; tại phiên tòa phúc thẩm xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T, giảm cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm theo đúng quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không trái quy định pháp luật, vì vậy được chấp nhận xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: do đầu tư kinh doanh trên mạng Internet bị thua lỗ dẫn đến nợ nần và mất khả năng trả nợ, không có việc làm ổn định, ở nhà nuôi con nhỏ và sẵn có kinh nghiệm về mua bán vé máy bay nên vào các ngày 17/7/2022 và ngày 27/8/2022 bị cáo đã vào các trang hội, nhóm mua bán vé máy bay và tổ chức tour du lịch để liên lạc với chị Lê Thị T1 và Trần Thị H1 đưa ra những thông tin gian dối, hứa hẹn để chị Lê Thị T1 tin tưởng xuất vé trước, lấy tiền sau và chị Trần Thị H1 đặt tour du lịch, nhưng thực tế bị cáo không thực hiện như thỏa thuận mà mua trên mạng xã hội Facebook hình ảnh giao dịch chuyển khoản ngân hàng và hình ảnh phiếu thu của Công ty D để gửi các bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt của chị Lê Thị T1 số tiền 72.508.000đ (bảy mươi hai triệu, năm trăm lẻ tám nghìn đồng), của chị Trần Thị H1 số tiền 27.300.000đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị Trần Thị H1 và Lê Thị T1 là 99.808.000đ (chín mươi chín triệu, tám trăm lẻ tám nghìn đồng).
Với hành vi phạm tội nêu trên, ngày 27/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để quyết định mức hình phạt 30 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ.
Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã thực hiện việc bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Lê Thị T1; xuất trình thêm biên lai ủng hộ hội nạn nhân chất độc màu da cam; tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo giao nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa phúc thẩm xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt.
[3] Về án phí: bị cáo đã nộp đủ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T.
- - Sửa bản án HSST số 12/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 BLHS.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp đủ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm (theo biên lai thu tiền số 0001367 ngày 12/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa).
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 118/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 118/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trang đưa ra thông tịn gian dối cung cấp tour du lịch giá rẻ và Nguyễn Thị Trang đưa ra thông tin gian dối cung cấp tour du lịch và máy bay giá rẻ để chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
