Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-9-2024

Về việc: Tranh chấp ly hôn,

nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu.
  2. Bà Dương Hạ Uyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Vang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vân Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang (Số B Hồ Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Bị đơn: Anh Trương Công D, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- chị Đào Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu thì chị Đào Thị N và anh Trương Công D tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 08/10/2006. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại Thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nhau, cả hai không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vả nhau. Cả hai thường xuyên mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, khi mâu thuẫn xảy ra anh D có những lời lẽ xúc phạm, thiếu tôn trọng chị và gia đình của chị N, có hành vi đánh đập chị N. Mặc dù đã cố gắng nói chuyện và cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng đều không có kết quả, anh D vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể nói chuyện với nhau được nữa nên chị N đưa về nhà ngoại sống, cả hai sống ly hôn từ đầu năm 2024 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị xác nhận vợ chồng có 02 con chung, là cháu Trương Công L, sinh ngày 31/05/2007 và Trương Công T, sinh ngày 09/12/2012. Chị N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L và cháu T đến khi hai con đủ tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị N yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung một tháng 4.000.000 đồng (2.000.000 đồng/con) đến khi con đủ tuổi thành niên. Tại phiên tòa, chị N khẳng định sau ly hôn có khả năng nuôi dưỡng hai con chung phát triển tốt nên chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nữa.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 27 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Trương Công D trình bày:

Về hôn nhân: Anh Trương Công D và chị Đào Thị N sau một thời gian tìm hiểu thì tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 08/10/2006. Sau khi kết hôn, hai vợ sinh sống tại nhà bố mẹ anh D ở Thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến năm 2010 thì hai vợ chồng chuyển ra ở riêng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong chuyện quản lý tiền bạc, trong những lần vợ chồng cãi nhau anh D đã có những lời lẽ xúc phạm chị N. Anh nhận thấy vợ chồng mặc dù có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án cho anh thời gian để anh hòa giải vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Anh D xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Công L, sinh ngày: 31/05/2007 và Trương Công T, sinh ngày: 09/12/2012. Nếu chị N cương quyết ly hôn, anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nếu chị N không có khả năng nuôi con thì anh D sẽ nuôi chứ anh không đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, nguyên đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Trương Công D; quan hệ hôn nhân chấp dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung là Trương Công L, sinh ngày 31/05/2007 và Trương Công T, sinh ngày 09/12/2012 cho chị Đào Thị N nuôi dưỡng, anh Trương Công D không cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị N, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
  • - Về án phí: Chị N án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Trương Công D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

[2] Về hôn nhân: Căn cứ lời khai của chị Đào Thị N và anh Trương Công D; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của chính quyền địa phương nơi chị N và anh D cùng các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Chị Đào Thị N và anh Trương Công D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/10/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên hôn nhân của chị N và anh D là hợp pháp.

Chị N và anh D đều xác nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong chuyện quản lý tiền bạc, tính tình không hòa hợp nhau, anh D có những lời lẽ xúc phạm chị N nên dẫn đến vợ chồng xảy ra gây gổ, cãi vả nhau. Theo kết quả xác minh tại Công an xã P và Ủy ban nhân dân xã P, huyện P ngày 16/5/2024 và 03/6/2024 xác định trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N, anh D có xãy ra mâu thuẫn, chị N có gửi đơn đến Công an xã P giải quyết mâu thuẫn. Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian nhưng vợ chồng không thể hàn gắn. Tại phiên tòa, chị N vẫn kiên quyết ly hôn với anh D.

Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N, anh D là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.

[3] Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con:

Chị N và anh D có 02 con chung là cháu Trương Công L, sinh ngày 31/05/2007 và Trương Công T, sinh ngày 09/12/2012. Các con chung đều có nguyện vọng ở với chị N sau khi cha mẹ ly hôn.

Xét thấy các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ và chị N có yêu cầu nuôi dưỡng các con nên cần giao 02 con chung cho chị N nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, chị N chứng minh được thu nhập mỗi tháng 6.000.000 đồng, chị khẳng định có khả năng nuôi con phát triển tốt và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyệt phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị N, cho chị Đào Thị N được ly hôn với anh Trương Công D. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[2] Về con chung: Giao 02 cháu Trương Công L, sinh ngày 31/05/2007 và Trương Công T, sinh ngày: 09/12/2012 cho chị Đào Thị N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Trương Công D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị N đã nộp tại biên lai thu số 0001850 vào ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[6] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Phú Vang;
  • - UBND xã Phú Hồ (ĐKKH số 34 ngày 08/10/2006;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger