TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/DS-ST Ngày: 15 – 8 – 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Trung Nghĩa.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 123/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 126/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K .
Địa chỉ: Số 40-42-44 đường Ph, phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Th, sinh năm 1988; chức vụ: Nhân viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 45D đường Ng, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Bà Sơn Thị L, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Â, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2024 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện do nguyên đơn ủy quyền ông Trần Ngọc Th trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch Vĩnh Châu (gọi tắt là Ngân hàng) có cho bà Sơn Thị L vay tiền theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 0400/21/TC/2101-09364 ngày 20/10/2021 với hạn mức thẻ là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), lãi suất 22%/năm.
Trong quá trình sử dụng thẻ bà L đã vi phạm hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 14/8/2024, bà L còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 32.103.653đ (ba mươi hai triệu một trăm lẻ ba nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng), trong đó vốn là 14.541.642đ (mười bốn triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi hai đồng) và lãi là 7.007.784đ (bảy triệu không trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mươi bốn đồng) và phí là 10.554.227đ (mười triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bảy đồng).
Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà L phải thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, bà L còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Đối với bị đơn bà Sơn Thị L : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bà L không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, bà L cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 01/8/2024, bà L vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Sơn Thị L cư trú tại ấp Â, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Sơn Thị L đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bà Sơn Thị L .
[2] Về nội dung giải quyết:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi, phí tiền vay của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1] Xét tính hiệu lực của hợp đồng tín dụng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) Kienlongbank số 0400/21/TC/2101-09364 ngày 20/10/2021, Bản sao kê về quá trình giao dịch của bà Sơn Thị L đối chiếu với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và việc không phản đối của bị đơn thì việc Ngân hàng và bà Sơn Thị L ký kết hợp đồng mở thẻ tuân thủ các quy định của Ngân hàng và không vi phạm các điều trái với pháp luật. Do đó, có cơ sở khẳng định việc bà L có ký với Ngân hàng về việc mở tài khoản và sử dụng tiền trong tài khoản do Ngân hàng cho vay và chuyển vào tài khoản của bà L là thực tế.
Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) Kienlongbank số 0400/21/TC/2101-09364 ngày 20/10/2021 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và bà Sơn Thị L. đã nhận đủ tiền mở thẻ tín dụng. Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Sau khi vay được tiền, bà L đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
[2.1.2] Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) Kienlongbank số 0400/21/TC/2101-09364 ngày 20/10/2021 có lãi suất thỏa thuận là 22%/năm, quy định các loại phí theo Hợp đồng đã ký kết. Đây là lãi suất, phí do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Sơn Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Sơn Thị L phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc và các khoản phí là có cơ sở chấp nhận.
Kể từ ngày 15/8/2024, bà Sơn Thị L còn phải tiếp tục chịu lãi, phí đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất, phí đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
[3] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bà Sơn Thị L phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với bị đơn bà Sơn Thị L, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bị đơn bà Sơn Thị L có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K dư nợ tính đến ngày 14/8/2024, tổng cộng là 32.103.653đ (ba mươi hai triệu một trăm lẻ ba nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng), trong đó vốn là 14.541.642đ (mười bốn triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi hai đồng) và lãi là 7.007.784đ (bảy triệu không trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mươi bốn đồng) và phí là 10.554.227đ (mười triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm hai mươi bảy đồng).
Đồng thời bà L còn phải trả cho Ngân hàng tiền lãi, phí phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 14/8/2024 cho đến khi trả xong số nợ gốc.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sơn Thị L phải chịu là 1.605.182đ (một triệu sáu trăm lẻ năm nghìn một trăm tám mươi hai đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 569.897đ (năm trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004789 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Bị đơn Sơn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 118/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khơi kiện
