TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số:118/2024/HS-ST Ngày 15 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.
Các Hội thẩm Nhân dân : Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Hoàng Thị Hồng Nhung.
Thư ký phiên toà: Bà Kiều Thị Hằng - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:111/2024/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 122/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Quang L, sinh năm 1984, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà L Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không: Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 31/10/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt 350.000₫ về hành vi mua số lô, số đề ngày 08/11/2023 bị cáo mới chấp hành nộp phạt xong.
- Nhân thân:
- + Ngày 13/5/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Lê Quang L 06 năm tù về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ hình phạt vào ngày 31/8/2014, (Đã được xóa án tích).
- + Ngày 05/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ hình phạt ngày 23/5/2017, (Đã được xóa án tích).
- + Ngày 06/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ hình phạt ngày 07/5/2020, (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 cho đến nay, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/5/2024, Tổ công tác Công an phường Khai Quang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vĩnh Yên kiểm tra hành chính phòng trọ của Lê Quang L, tại TDP Trại Giao, phường Khai Quang phát hiện thu giữ tại hộp sắt để trong thùng đựng rác đặt ở phía đầu giường trong phòng ngủ của L 11 gói giấy bạc nhỏ, trong đó có 05 gói giấy bạc nhỏ màu vàng và 06 gói giấy bạc nhỏ màu trắng, bên trong đều chứa chất cục, bột màu trắng được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1 (L khai nhận 11 gói giấy bạc nhỏ bên trong chứa chất cục, bột màu trắng là 11 gói ma túy loại Heroine của L cất giấu để sử dụng cho bản thân) và 01 hộp kim loại hình tròn màu xanh. Sau đó Tổ công tác lập biên bản sự việc và đưa Lê Quang L cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên để làm việc, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng cho cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Về nguồn gốc ma túy L khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy hiện đang thuê trọ tại TDP Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc sinh sống cùng chị Lương Thị M, sinh năm 1995 ở xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, khoảng 15 giờ ngày 18/5/2024, L đang ở nhà trọ thì nảy sinh ý định ma túy Heroine về sử dụng. L thuê xe ôm từ phòng trọ đến khu vực gần Nhà thờ ở đường Ngô Quyền, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên để tìm mua ma túy. Khi gần đến nơi, L thanh toán tiền xe ôm rồi xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và nói chuyện với một người nam giới tên S (không biết họ, tuổi, địa chỉ) đang đứng trên vỉa hè, dáng giống người nghiện. Qua nói chuyện, L biết S bán ma túy nên L hỏi mua của Sơn 11 gói nhỏ ma túy Heroine với giá 3.000.000đ, Sơn đồng ý. L đưa tiền cho Sơn, sau khi cầm tiền rời đi (không biết đi đâu) và bảo L đứng đợi một lúc. Khoảng 10 phút sau S quay lại vị trí L đang đứng đợi và đưa cho L 11 gói giấy bạc nhỏ bên trong đều chứa ma túy Heroine, L cất ma túy vừa mua được vào trong người rồi đi bộ về nhà trọ ở TDP Trại Giao, phường Khai Quang để sử dụng ma túy. Khi về đến phòng trọ, L lấy 01 phần ma túy trong 01 gói giấy bạc nhỏ để sử dụng rồi L gói lại và cất giấu 11 gói ma túy vào 01 hộp kim loại để trong thùng rác cạnh đầu giường ngủ của L. Đến ngày 21/5/2024, khi L đang ở phòng trọ tại TDP Trại Giao, phường Khai Quang thì bị Tổ công tác Công an phường Khai Quang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vĩnh Yên kiểm tra hành chính phát hiện và lập biên bản thu giữ vật chứng như trên.
Tại Kết luận giám định số 1476/KLGĐ ngày 25/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 3,3810g (Ba phảy ba tám một không gam, không kể bao bì).
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, gồm: A1 = 3,1173 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1373/2024”.
Tại Cáo trạng số: 120/CT-VKSVY - VP ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Lê Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa Lê Quang L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Quang L từ 02 năm đến 2 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 21/5/2024).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy 3,1173 (Ba phảy một nghìn một tram bảy ba) gam hêrôin và toàn bộ bao giấy “MẪU TRẢ vụ 1373/2024” và 01 hộp kim loại hình tròn màu xanh.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Lê Quang L tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/5/2024, Tổ công tác Công an phường Khai Quang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của Lê Quang L tại TDP Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, phát hiện L có hành vi tàng trữ trái phép 11 gói giấy bạc nhỏ bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng, qua giám định là ma túy loại Heroine có tổng khối lượng là 3,3810 gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, ma túy cũng là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, nên thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng.
Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, 03 lần bị đưa ra xét xử, trong đó có 01 lần bị xét xử liên quan đến ma túy, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu sự tu dưỡng, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc cách ly ra khởi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy rằng tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lê Quang L ở khu vực gần Nhà thờ Vĩnh Yên trên đường Ngô Quyền, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, khi mua bán ma túy do người này đeo khẩu trang nên bị cáo không nhìn rõ mặt, không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Ngoài lời khai của L thì cũng không có tài liệu nào xác định nhân thân, lai lịch người nam giới đã bán ma túy cho L. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Đối với chị Lương Thị M là người sinh sống như vợ chồng với bị cáo, Tuy nhiên chị M không biết L bị nghiện ma túy, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo L. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với người lái xe ôm đã chở L đi mua ma túy khi chở L người này không biết mục đích của L là gì? Không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với ông Dương Minh T là người cho chị Lương Thị M và L thuê phòng trọ tại TDP Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên từ khoảng tháng 3/2024, chị M là người đứng tên hợp đồng thuê nhà, mục đích thuê nhà để sinh sống hàng ngày. Trong thời gian cho L thuê nhà, ông không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng trọ. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý đối với ông Tuân là có căn cứ.
[6] Về vật chứng:
Đối với 3,1173 gam ma túy Heroine cùng bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1373/2024" hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 hộp kim loại hình tròn màu xanh, Lê Quang L sử dụng để cất giấu 11 gói ma túy Heroine là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Lê Quang L 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 21/5/2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 3,1173 gam ma túy Heroine cùng bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1373/2024” và 01 hộp kim loại hình tròn màu xanh.
(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Quang L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đỗ Minh Ái |
Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 118/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
