Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Tiểu Quỳnh – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Văn Tám
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh – Nguyên Bí thư Đoàn phường Phú Mỹ, Quận 7, Tp Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 15 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Minh Hoàng P, sinh năm 2003 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đào Minh T và bà Lê Thị Hoàng O; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Đào Minh Hoàng P: Ông Thái Văn C, sinh năm 1979 – Là luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số G đường số A, Khu phố E, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).

Bị hại: Em Nguyễn Nhật H, sinh năm 2011; Địa chỉ: Căn hộ A, chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật H: Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1985 (là cha ruột) (Vắng mặt) và bà Lê Thị M, sinh năm 1984 (là mẹ ruột) (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án); Cùng trú tại: Căn hộ A, chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật H: Ông Phạm Ngọc H1, sinh năm 1954 (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án) và ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995 (Có mặt); Cùng địa chỉ liên lạc: Số I Đường số G, KDC T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Là luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đào Minh Hoàng P và em Nguyễn Nhật H (sinh năm 2011) không quen biết, mâu thuẫn gì với nhau. P và H có vài lần cùng chơi bóng rổ chung với nhau tại sân chơi bóng rổ thuộc công viên đối diện Block A, chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/12/2023, tại sân chơi bóng rổ nêu trên khi bị cáo Đào Minh Hoàng P với ông Phạm Hùng A, ông Quan Thanh H3 và ông Đinh Việt Quốc K chơi bóng rổ cùng nhau thì có em Nguyễn Nhật H đến chơi cùng. Trong lúc bị cáo P đi ra ngoài sân bóng rổ (cách nơi em H đứng khoảng 20m) để hút thuốc thì P nhìn thấy em H đá trái bóng rổ của P ra ngoài. Lúc này P nghĩ trái bóng rổ mà dùng chân đá như vậy sẽ bị hư trái bóng nên P tiến lại H và hỏi: “Tại sao em lại đá bóng của anh”, và giải thích là hành động đá trái banh của H là phá hoại tài sản của P. Nhưng hai bên cãi nhau qua lại, H quá ngạc nhiên về việc P cho rằng H làm vậy là phá hoại tài sản nên H nói với P “What The Fuck”, P nghe thấy H chửi thì bực tức, nóng giận dùng tay không đánh vào mắt trái của H, H dùng tay không đánh trả vào mặt của P, tiếp đến P dùng tay không đấm vào bụng của H, sau đó P và H cả hai lao vào vật nhau, P vật H ngã xuống nền sân bóng, nhưng do H to lớn hơn so với P nên H vật P ngã xuống nền, cả hai ôm ghì lấy nhau và vật lộn qua lại được một lúc thì ông Hùng A đến can ngăn H và P ra. Sau đó, ông Nguyễn Quang V và bà Lê Thị M (là ba mẹ ruột của H) đến biết sự việc H bị P đánh nên ông V và bà M đến gặp P để nói chuyện xem tình hình như thế nào. Nhưng ông V, bà M và P lại tiếp tục xảy ra cãi vã, ông V điện thoại báo công an phường P đến giải quyết, trong lúc đó hai bên tiếp tục sáp lại gần nhau nhưng được can ngăn ra. Sau đó, công an phường P đến mời các bên liên quan về phường để làm rõ, xử lý.

Ngày 07/12/2023, bà Lê Thị M là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Nhật H (do bị hại Nguyễn Nhật H dưới 16 tuổi) có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đào Minh Hoàng P.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Đào Minh Hoàng P đã thừa nhận hành vi pham tội của mình. Đào Minh Hoàng P có đơn yêu cầu không xử lý hình sự và từ chối giám định tỷ lệ thương tật của P.

Theo bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người Nguyễn Nhật H số 7742/KLTTCT-C09B ngày 20/12/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Các kết quả chính:

  • + Vết sây sát da mi dưới mắt trái.
  • + Vết sây sát da vùng cổ trái.
  • + Vết sây sát vùng xương đòn trái.
  • + Vết sây sát da bờ trước vai phải.
  • +Vết sây sát da mặt sau khuỷu tay phải.
  • + 02 vết sây sát da mặt sau khuỷu tay trái.
  • + 03 vết sây sát da gối phải.
  • + Vết sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân trái.
  • + 02 vết sây sát da mặt trong gối trái.

- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Nhật H như sau:

  • + Vết sây sát da mi dưới mắt trái: 0,5% (Chương 8, Mục V).
  • + Vết sây sát da vùng cổ trái: 0,5% (Chương 8, Mục 5).
  • + Vết sây sát vùng xương đòn trái: 0,5% (C, Mục V).
  • + Vết sây sát da bờ trước vai phải: 0,5% (C, Mục V).
  • + Vết sây sát da mặt sau khuỷu tay phải: 0,5% (Chương 8, Mục V).
  • + 02 vết sây sát da mặt sau khuỷu tay trái: 0,5% (Chương 8, Mục V).
  • + 03 vết sây sát da gối phải: 0,5% (Chương 8, Mục V).
  • + Vết sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân trái: 0,5% (C, Mục V).
  • +02 vết sây sát da mặt trong gối trái: 0,5% (Chương 8, Mục V).

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Nhật H tại thời điểm giám định là: 6% (Sáu phần trăm).

*Về trách nhiệm dân sự:

- Tại cơ quan điều tra, bị hại Nguyễn Nhật H do người đại diện hợp pháp là bà Lê Thị M yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 27/5/2024, bà Lê Thị M là người đại diện hợp pháp của Nguyễn Nhật H yêu cầu bị cáo Đào Minh Hoàng P bồi thường các khoản như sau: Bồi thường giá trị tài sản bị xâm phạm do hành vi phạm tội gây ra, chi phí điều trị, chi phí cho người chăm sóc và bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 267.204.120 đồng.

- Ngày 13/8/2024, bà M xác định yêu cầu Tòa án xem xét buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo đã thực hiện việc bồi thường khắc phục hậu quả cho phía bị hại xong (theo biên bản thỏa thuận ngày 13/8/2024). Bị hại do bà Lê Thị M là người đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKSQ7 ngày 24/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Đào Minh Hoàng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tổ luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Đào Minh Hoàng P tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Đào Minh Hoàng P đã có hành vi cố ý gây thương tích cho Nguyễn Nhật H. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 134; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Đào Minh Hoàng P từ 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét vì bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất đề nghị của Kiểm sát Viên về tội danh áp dụng đối với bị cáo Đào Minh Hoàng P. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” cho bị cáo. Vì tại phiên tòa, khi Hội đồng xét xử hỏi bị cáo lý do vì sao xảy ra sự việc bị cáo đánh bị hại thì bị cáo trình bày vì bị hại có thái độ xấc xược. Đến phiên tòa hôm nay mà bị cáo vẫn cho rằng bị hại có thái độ xấc xược là thể hiện thái độ của bị cáo vẫn chưa nhận ra lỗi của bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Hành vi của bị cáo P xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong vui chơi giải trí mà đánh, gây thương tích ở nhiều vị trí trên cơ thể của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng án lệ số 17/2018/A1 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 từ đó xem xét áp dụng thêm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo là tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngay sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo không những không nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm mà còn có thái độ thách thức, đe dọa sẽ tiếp tục đánh bị hại. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tương thích với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tinh thần bảo vệ triệt để quyền trẻ em theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận được tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

Người bào chữa cho bị cáo – Luật sư Thái Văn C trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ và hình phạt của đề nghị đại diện Viện Kiểm sát áp dụng cho bị cáo nên không tranh luận gì thêm. Vấn đề trách nhiệm dân sự: không bàn sâu vì bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận và thực hiện xong. Tuy nhiên, về tình tiết giảm nhẹ: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 vì tại phiên tòa bị cáo đã thực hiện bồi thường xong cho bị hại. Xin tranh luận với người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại về việc áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” đối với hành vi của bị cáo. Hành vi của bị cáo hoàn toàn không mang tính chất côn đồ vì: bị cáo không có sự chuẩn bị từ trước, không mang tính thù hằn và thiệt hại gây ra không lớn vì tỷ lệ tổn thương của từng thương tích rất nhỏ, việc bị cáo đánh bị hại và thực tế bị hại cũng đánh trả lại bị cáo chứ không phải chỉ mình bị hại bị thương tích, tuy nhiên bị cáo không có ý kiến gì đối với thương tích của bị cáo, xét cả quá trình thì bị cáo chỉ chủ đích dùng tay không đánh hai cái vào bị hại còn các vết thương còn lại là do quá trình cả hai vật lộn dưới nền gây ra tuy nhiên bị cáo hoàn toàn không chối bỏ trách nhiệm đối với những thương tích gây ra trên người của bị hại. Hành vi của bị cáo do không kiềm chế được cảm xúc, nguyên nhân dẫn đến vi phạm mang tính bột phát nhất thời gây ra hoàn toàn không có tính chất côn đồ nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt theo như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát Quận G đối đáp tranh luận lại với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Không đồng ý với lập luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng bị cáo phạm tội mang tính chất côn đồ. Hành vi của bị cáo không có sự chuẩn bị từ trước, không dùng hung khí, thiệt hại gây ra không lớn, nguyên nhân dẫn đến vi phạm mang tính bột phát nhất thời. Do đó, không đồng ý về việc đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội mang tính chất côn đồ đối với bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin gửi lời xin lỗi đến em H và gia đình của em H. Thật sự bị cáo rất thấy có lỗi đối với hành vi của bị cáo nhưng do sự giáo dục không tốt và bản thân bị cáo không biết dùng lời lẽ thể hiện sự biết lỗi của mình nên bị cáo tha thiết mong gia đình em H, cô M tha lỗi cho bị cáo để bị cáo có cơ hội khắc phục sửa chữa lỗi lầm của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tòa án nhân dân Quận 7 đã trả hồ sơ điều tra bổ sung và Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị rút hồ sơ lại để điều tra bổ sung: “Làm rõ và xác định thương tích nào trên cơ thể của bị hại Nguyễn Nhật H bị bị cáo Đào Minh Hoàng P dùng tay đánh gây ra? Thương tích nào trên cơ thể của bị hại do quá trình bị cáo và bị hại vật lộn, xô xát gây ra? Nhưng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 có công văn trả lời: thương tích của bị hại H là do bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa ngày 13/8/2024, bị cáo xác nhận do lúc xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau, sự việc diễn ra nhanh chóng, bị cáo nóng giận không kiềm chế được cảm xúc nên nhớ có đánh vào mắt của H chứ không nhớ chính xác là đánh vào mắt trái hay mắt phải, lúc này Nguyễn Nhật H có đeo kính nên gây trầy xước dưới mí mắt trái của H. Bị cáo xác nhận quá trình đánh nhau chỉ có bị cáo và H tham gia đánh nhau nên những thương tích của H được ghi nhận trong nội dung bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người Nguyễn Nhật H số 7742/KLTTCT-C09B ngày 20/12/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và theo lời trình bày của H là đúng. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, mặc dù Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 không tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra để tiến hành đối chất, thực nghiệm lại hiện trường ... để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của bị cáo và bị hại nhưng vẫn có đủ cơ sở để truy tố, xét xử được hành vi của bị cáo. Nên về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Đào Minh Hoàng P đã có hành vi dùng tay không đánh vào mắt của bị hại Nguyễn Nhật H, H dùng tay không đánh lại vào mặt của P. Sau đó, P tiếp tục dùng tay không đánh vào bụng của H và lao vào ôm vật H xuống sân bê tông, nhưng do tương quan thể lực của H cao lớn hơn P nên P bị H đẩy vật ngược lại làm cả hai cùng ngã xuống sân vật lộn qua lại, dẫn đến tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của H là 6% được ghi nhận theo bản kết luận giám định số 7742/KLTTCT-C09B ngày 20/12/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và giấy khai sinh số 70 đăng ký ngày 21/4/2016 tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận H thể hiện em Nguyễn Nhật H sinh ngày 10/6/2011. Do đó, có đủ cơ sở xác định vào thời điểm bị cáo P gây thương tích cho bị hại Nguyễn Nhật H thì H chưa đủ 16 tuổi. Như vậy, việc người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 có Cáo trạng số 66/CT-VKSQ7 ngày 24/4/2024 đề nghị truy tố bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo Điểm c Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Hành vi bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác và cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo P là người trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết nhưng không kiềm chế được bản thân, thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đủ để cải tạo giáo dục các bị cáo và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[4] Về việc áp dụng hình phạt:

[4.1.] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về lời tranh luận, trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 17/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17/10/2018 về tình tiết phạm tội mang tính chất côn đồ, từ đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Yếu tố được đánh giá là có tính chất “côn đồ” trong Án lệ số 17/2018/AL là chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với nhau mà đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của nạn nhân. Trong vụ án này, bị cáo không dùng hung khí; Và Án lệ số 17/2018/AL là án lệ về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm. Do đó, không phù hợp với nguyên tắc áp dụng án lệ quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 04/20219/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ nên yêu cầu này của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại là không có cơ sở xem xét áp dụng.

Mặc khác, diễn biến quá trình từ khi bắt đầu xảy ra mâu thuẫn cho đến khi bị cáo và bị hại đánh nhau dẫn đến thương tích cho bị hại thì về mặt ý thức, ý chí, sự chuẩn bị của người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ, cường độ tấn công, không gian, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, lỗi hoặc lời nói, hành động của bị hại trước khi trước khi người phạm tội có hành vi tấn công, tương quan thể lực và hành vi xử sự giữa bị cáo và bị hại thì hành vi phạm tội của bị cáo không có tính chất côn đồ. Nên đối với đề nghị của người bào chữa và kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên là có sơ sở chấp nhận. Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội mang tính chất côn đồ đối với bị cáo.

[4.2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại số tiền là 70.000.000 đồng theo biên bản thoả thuận thống nhất giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại, phía bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Khi sự việc xảy ra mặc dù thái độ của bị cáo không đúng mực nhưng đó là trong lúc nóng giận, bị cáo không kiềm chế được cảm xúc, sau này trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thể hiện sự ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, minh chứng là tại đơn không yêu cầu xử lý hình sự và từ chối giám định tỷ lệ thương tật của bị cáo thể hiện: bản thân bị cáo cũng bị thương tích nhưng bị cáo nhận thấy sự việc xảy ra bị cáo có lỗi nên bị cáo không có ý kiến gì đối với thương tích của bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tha thiết mong bị hại và gia đình bị hại nhận lời xin lỗi chân thành từ bị cáo; việc bị cáo trình bày bị hại có thái độ xấc xược là ý thức chủ quan của bị cáo tại thời điểm bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn chứ không phải đến nay tại phiên tòa bị cáo vẫn cho rằng bị hại có thái độ xấc xược; ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi khi là người trực tiếp có hành vi đánh lại bị cáo, đồng thời xét về tương quan thể lực thì bị hại cao lớn hơn so với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Trình bày tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại về việc đề nghị không xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi là không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4.3] Về việc áp dụng loại hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo P xuất thân từ thành phần cơ bản, bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Vào thời điểm xảy ra vụ việc, bị cáo mới 20 tuổi đã phải đi làm kiếm tiền, xa gia đình mặc dù đang ở độ tuổi đáng lẽ ra phải được đào tạo học nghề, học đại học để sau này có nghề nghiệp, tương lai vững chắc. Từ khi sự việc xảy ra cho đến nay, bị cáo về quê sống, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, không có tình tiết tăng nặng. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, thể hiện rõ chính sách khoan hồng nhân đạo của luật pháp xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 và người bào chữa tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận. Giao bị cáo cho Chính quyền nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử cũng thấy rằng, bị cáo hiện nay chưa có việc làm nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho phía bị hại số tiền là 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng, hai bên đã giao nhận xong tiền và bị hại cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên, đã thực hiện xong và bị hại cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì khác về việc bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đào Minh Hoàng P 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Đào Minh Hoàng P cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Minh Hoàng P cố ý gây thương tích đối với em Nguyễn Nhât H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger