|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 4- 2024 Về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh và ông Trần Ngọc Đăng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị T, sinh ngày 21/6/1997.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 16/01/1994.
Nơi thường trú: xóm I, xã N, huyện N, Nghệ An, vắng mặt (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Nơi sống và làm việc hiện nay: ngõ S, nhà số A đường C, thành phố N, huyện N, Đ - Đ, vắng mặt (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Bùi Thị T trình bày như sau:
Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D tìm hiểu và tự nguyện yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/12/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống và sinh được bé gái thì vợ chồng thường xẩy ra xung đột. Năm 2019 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó quan hệ vợ chồng xa dần. Xét thấy hôn nhân không bền vững, nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: chị T, anh D có 01 người con chung là Nguyễn Bùi Yến N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2016. Con chung hiện nay do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu cầu anh D cấp dưỡng một tháng 2.000.00₫ đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Nguyễn Văn D có đơn trình bày: anh D thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị Bùi Thị T đã khai. Sau thời gian chung sống vợ chồng hạ sinh con gái đầu lòng thì quan hệ vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn. Năm 2019 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và cũng từ đó quan hệ vợ chồng xa dần theo năm tháng. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, chị T làm đơn ly yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh D đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: anh D, chị T có 01 người con chung là Nguyễn Bùi Yến N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2016. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, cháu Yến N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, anh D đồng ý và anh D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con một tháng 2.000.000đ đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có. Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn chị Bùi Thị T có địa chỉ thường trú tại xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Bị đơn anh Nguyễn Văn D, hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Nơi sống và làm việc hiện nay: ngõ S, nhà số A đường C, thành phố N, huyện N, Đ - Đ. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đã có văn bản lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết vụ án, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ngày 13 tháng 3 năm 2024, chị T đã có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị. Anh Nguyễn Văn D hiện đang ở nước ngoài, anh D đã gửi bản tự khai trình bày ý kiến của anh (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án nên đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn D đã ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T1, nơi cư trú: số G T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình giao nhận các văn bản của Tòa án. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn
bản tố tụng cho anh D thông qua ông T1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ có sự tham gia của chị Bùi Thị T. Căn cứ khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04 tháng 12 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung hạnh phúc. Năm 2019 anh D đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, do khoảng cách địa lý chị T, anh D tình cảm cũng dần xa cách, anh D và chị T sống xa nhau nhưng lại thiếu sự quan tâm đến nhau, mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng và không thể hàn gắn. Do tình cảm không còn, chị T làm đơn xin ly hôn anh D. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đã có những mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết cho chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D được ly hôn.
[2.2] Về con chung: chị T, anh D có 01 người con chung là Nguyễn Bùi Yến N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2016. Chị T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh D đồng ý giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét thấy: Từ khi anh D đi nước ngoài đến nay, con chung được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T hiện nay có điều kiện để chăm sóc con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Yến N. Anh D hiện nay đang ở nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc con chung. Nên cần giao cháu Yến N cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng, anh D đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T 2.000.000đ/tháng, nên cần chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ; thẩm anh Nguyễn Văn D phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung:
- Giao con chung của chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D là cháu Nguyễn Bùi Yến N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2016 cho chị Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: anh Nguyễn Văn D cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, việc cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu Nguyễn Bùi Yến N đủ 18 tuổi, trưởng thành hoặc đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0001462 ngày 09/01/2024. Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Bùi Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
- Anh Nguyễn Văn D đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Dành quyền khởi kiện về yêu cầu chia tài sản chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
