|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/DS-ST
Ngày: 10 - 5 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Hận
Bà Đỗ Mỹ Lil
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ông Hồ Minh K – sinh năm 1960. (Xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. -
- Bị đơn: Ông Bùi Văn L (Vắng mặt)
Bà Lê Thu H (Xin xét xử vắng mặt)
Anh Bùi Văn T (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Hồ Minh K trình bày:
Vào khoảng năm 2019, ông có bán phân bón cho ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và con của ông L và bà H là Bùi Văn T, quá trình mua bán có cho nợ nhiều lần và lần cuối chốt nợ thì còn thiếu lại ông số tiền là 24.095.000 đồng (có giấy chốt nợ). Nhiều lần ông yêu cầu gia đình ông L, bà H và T thanh toán nhưng cứ hứa hẹn mà không trả nên ông khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và Bùi Văn T trả cho ông số tiền là 24.095.000 đồng.
Đối với bị đơn ông Bùi Văn L và Bùi Văn T, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử nhiều lần nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
Bị đơn là bà Lê Thu H trình bày:
Bà là vợ của ông Bùi Văn L và là mẹ ruột của Bùi Văn T (đồng bị đơn trong vụ án), bà không nhớ năm sinh của bản thân và chồng con, cũng không đem theo giấy tờ tuỳ thân. Hiện nay chồng bà là ông Bùi Văn L đang bị bệnh tai biến và con là Bùi Văn T đi làm ăn xa nên không đến tham gia tố tụng được. Bà đại diện cho chồng con xác định là gia đình bà còn nợ số tiền mua phân bón của ông Hồ Minh K là 24.095.000 đồng như ông K khởi kiện, trong đó phần của vợ chồng bà là 16.775.000 đồng, phần của con bà là T 7.320.000 đồng, gia đình bà đồng ý trả cho ông K nhưng vì mấy năm nay chồng bà bị bệnh tai biến, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên không có khả năng trả ông K, bà có xin ông K nào có điều kiện sẽ trả nhưng ông K lại thưa gia đình bà ra Toà án, nay gia đình bà cũng đồng ý trả không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Hồ Minh K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và Bùi Văn T thanh toán tiền mua phân bón. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và Bùi Văn T hiện đang cư trú tại địa chỉ xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Hồ Minh K, bà Lê Thu H có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Bùi Văn L và Bùi Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Bị đơn là bà Lê Thu H thừa nhận là vợ chồng bà và con là Bùi Văn T còn nợ tiền phân bón và đồng ý trả cho nguyên đơn ông Hồ Minh K số tiền là 24.095.000 đồng như khởi kiện, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh K, buộc bị đơn ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và anh Bùi Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Minh K số tiền nợ là 24.095.000 đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh K nên bị đơn ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và anh Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể: 24.095.000 đồng x 5% = 1.205.000 đồng (Một triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Áp dụng các điều 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh K đối với bị đơn ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và anh Bùi Văn T.
Buộc ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và anh Bùi Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Minh K số tiền là 24.095.000 đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
-
Về án phí:
Ông Bùi Văn L, bà Lê Thu H và anh Bùi Văn T phải chịu 1.205.000 đồng (Một triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 118/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 118/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng mua bán phân bón còn nợ nhiều năm chưa thanh toán
