|
TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HSST Ngày 08/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quý Minh Ánh;
Ông Nguyễn Bá Quyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 12/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXX ngày 09/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/HSST-QĐ ngày 24/7/2024, đối với bị cáo:
Đỗ Văn T
(Tên gọi khác: Không có); Sinh năm 1994;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Đỗ Văn D và bà Dương Thị M; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Cơ sở tín ngưỡng Đình làng D3
Địa chỉ: T, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983 – Chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường H – Trưởng ban Q1.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn M1, sinh năm 1958 – Phó ban Q1; Địa chỉ: T, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông M1 có mặt tại phiên toà)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông D có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- + Ông Khúc Ngọc L, sinh năm 1966; Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
- + Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Đ, thôn T, xã X, huyện S, T.P H.
- + Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: TDP T, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(ông L, bà L1, bà Đ đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân không có nghề nghiệp, không có thu nhập, ham chơi điện tử nên Đỗ Văn T và Phạm Huy H (sinh năm 1997, không rõ địa chỉ cụ thể) đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản tại các Đình, Đ1 thuộc khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 20/01/2024, sau khi chơi game cùng nhau tại một quán game ở khu chợ S thành phố P, H rủ T đến Đ làng D thuộc tổ dân phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để trộm cắp tài sản. Trên đường đi, Hoàng nhặt được 01 chiếc bao tải rồi cầm theo mục đích để đựng tài sản trộm cắp. Khi đến nơi, T và H phát hiện Đ2 không có ai trông coi nên T và H trèo qua tường vào bên trong sân Đ2 rồi đi đến vị trí cửa trước bên phải từ ngoài nhìn vào Đ, kiểm tra cửa không khóa chỉ chốt then nên T trèo lên cửa, thò tay vào bên trong mở chốt cửa làm chốt cửa rơi xuống nền nhà rồi cả hai đi vào trong Đình. Quan sát thấy một chiếc chuông đồng được khoá treo trên giá, T đi ra ngoài và tìm được 01 ống kim loại hình hộp vuông, kích thước 2x27cm, ở đầu được hàn một thanh kim loại đặc vuông, dài 15cm rồi đưa cho H, H dùng thanh kim loại này cậy phá khóa rồi tháo được chiếc chuông ra. Sau đó, T và H tiếp tục lấy 02 con hạc và 02 chân hương được làm bằng đồng trên bàn thờ, cho toàn bộ số tài sản trên vào bao tải chuẩn bị trước đó rồi gọi xe taxi chở tài sản vừa trộm cắp được tới điểm thu mua phế liệu ở tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cất giấu. Đến sáng cùng ngày, T đi đến địa điểm thu mua phế liệu lấy tài sản trộm cắp và bán cho bà Nguyễn Thị L1 được khoảng 40kg đồng với giá 80.000 đồng/kg. Số tiền bán được T và H chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Trước đó, vào một ngày trong tháng 12 năm 2023, T đã đến Đình làng D và trộm cắp được 01 lư hương, 02 con hạc nhưng T không biết chất liệu làm bằng gì, có tổng trọng lượng 2,5kg và mang đến điểm thu mua phế liệu của bà L1 nhưng bà L1 không mua nên T đã vứt đi.
Đến ngày 28/02/2024, ông Trần Văn M1 phát hiện bị mất trộm tài sản nên đã làm đơn trình báo đến Công an phường H đề nghị giải quyết, đồng thời cung cấp cho Cơ quan Công an 01 chiếc USB, bên trong có chứa video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án. Công an phường H đã tiếp nhận tin báo, sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 832/YC-CSHS ngày 28/02/2024, định giá tài sản bị trộm cắp tại Đình làng D. Tại bản kết luận định giá số 15/KLĐG ngày 01/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: 01 (một) chuông đồng, kích thước cao 75cm, đường kính 35cm, có trọng lượng 33 kg. Chuông đồng được mua mới và đưa vào sử dụng năm 2014. Giá trị còn lại của chuông đồng là 10.890.000 đồng (Mười triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng). Hai con hạc bằng đồng, có chiều cao 50cm, mỗi con nặng 01kg, đã qua sử dụng giá trị còn lại là 1.386.000 đồng (Một triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Hai chân hương làm bằng đồng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 1.914.000 đồng (Một triệu chín trăm mười bốn nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản theo yêu cầu định giá là 14.190.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
Đối với 01 lư hương, 02 con hạc: Không rõ chất liệu, không rõ trọng lượng và không có tài liệu liên quan nên Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở xác định giá trị còn lại của tài sản.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiến hành mở niêm phong, kiểm tra nội dung video chứa trong chiếc USB do ông Trần Văn M1 giao nộp, đồng thời cho Đỗ Văn T thực hiện lại hành vi cùng Phạm Huy H trộm cắp tài sản tại Đ làng D. Kết quả, T xác định, hình ảnh hai người xuất hiện trong video là T và H, T thực hiện lại được toàn bộ hành vi cùng H trộm cắp tài sản tại Đ làng D vào ngày 20/01/2024. Lời khai của T phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với nội dung nêu trên, Cáo trạng số: 97/CT-VKSPY ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Đỗ Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/6/2024, ông Đỗ Văn D đã bồi thường số tiền 14.190.000 đồng (mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) cho đại diện Đình làng Diện là ông Trần Văn M1. Ông M1 đại diện cho Đ2 làng D2 đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Ông D không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả cho ông số tiền đã đứng ra bồi thường thay cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cattong ký hiệu T, bên trong có: 01 (một) quần vải bò dài màu xanh, phần cạp quần bên ngoài phía sau có gắn chữ “DESIGN HN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải dài tay gắn liền mũ (dạng áo chống nắng) màu đen, phần cánh tay phía bên ngoài có sọc kẻ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải bò màu xanh, phần cạp quần bên trong có chữ “CLASSIC MILAN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh, phần ngực phía trước bên trái của áo có thêu chữ “GUCCI”, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép cao su màu đen (dạng dép tông), phần quai dép có in hình động vật màu trắng trên nền màu đỏ, đã qua sử dụng là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản tại Đ làng D ngày 20/01/2024;
- - Trả lại cho Đ2 làng Diện: 01 (một) hộp bìa cattong ký hiệu S, bên trong có 01 (một) chiếc then cửa bằng kim loại đã qua sử dụng là then cửa của Đình làng Diện
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 ống kim loại hình hộp vuông, kích thước 2x27cm, ở đầu được hàn một thanh kim loại đặc vuông, dài 15cm, đã qua sử dụng là công cụ T sử dụng vào việc phạm tội.
- - Đối với 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “MEINFA”, chiều dài 23,5cm và 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “THAI NGUYEN”, “KTN”, chiều dài 19cm, đều đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, T khai 02 chiếc kìm trên là công cụ T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Đình Thanh G, tuy nhiên đến nay chưa có căn cứ xác định hành vi này nên được tiếp tục lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Công an thành phố P.
Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại/đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì, nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, những người làm chứng khác vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ được lưu trong hồ sơ vụ án; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân không có nghề nghiệp, không có thu nhập, ham chơi điện tử nên Đỗ Văn T và Phạm Huy H (sinh năm 1997, không rõ địa chỉ cụ thể) đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản tại các Đình, Đ1 thuộc khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:
Vào khoảng 2 giờ 20 phút ngày 20/01/2024, H và T sau khi chơi game tại một quán game ở thành phố P, đã rủ nhau đến Đình làng D để trộm cắp. Trên đường đi, Hoàng nhặt được một bao tải để đựng tài sản trộm. Khi đến nơi, thấy Đ2 không có ai trông coi, cả hai trèo vào và phát hiện cửa không khóa. T và H vào trong và dùng một thanh kim loại để cậy phá khóa, lấy đi một chiếc chuông đồng, hai con hạc, và hai chân hương làm bằng đồng, rồi gọi taxi chở số tài sản này đến một điểm thu mua phế liệu để cất giấu. Sáng hôm sau, T bán số tài sản này cho bà Nguyễn Thị L1 được khoảng 40kg đồng với giá 80.000 đồng/kg và chia nhau số tiền bán được.
Trước đó, vào tháng 12 năm 2023, T đã trộm tại Đình làng Diện một lư hương và hai con hạc nhưng không biết chất liệu làm bằng gì và bán không được nên đã vứt đi. Đến ngày 28/02/2024, ông Trần Văn M1, đại diện Ban Q1, phát hiện mất trộm và trình báo Công an phường H. Cơ quan Công an đã nhận được video ghi lại hình ảnh vụ án và tiến hành điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã yêu cầu định giá tài sản bị trộm. Theo kết luận, tổng giá trị tài sản bị trộm là 14.190.000 đồng (mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 97/CT-VKSPY ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức, được pháp luật hình sự bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân. Việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 12/12, sau đó làm ruộng tại địa phương, là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại. Do vậy, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” và “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Ngoài ra đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, gia đình bị cáo còn trực tiếp thờ cúng Liệt sĩ nên cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt áp dụng: Từ các nhận định về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo thuộc thành phần ham chơi, lười lao động. Để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý. Trước khi hành vi phạm tội của bị cáo bị phát giác, bị cáo cũng đã thừa nhận nhiều lần có hành vi trộm cắp tài sản ở một số Đình, Đ1 khác tại địa phương tuy nhiên Cơ quan CSĐT chưa có đủ cơ sở để khởi tố vụ án và xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi lượng hình cần xém xét để giảm nhẹ phần nào trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ cần được chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Đỗ Văn D là bố đẻ của bị cáo T được bị cáo tích cực tác động nhờ bồi thường cho Đ2 làng D, ông Trần Văn M1 đại diện cho Đ2 làng D2 đã nhận số tiền bồi thường 14.190.000đồng (mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Tại phiên toà, ông Đỗ Văn D xác định số tiền 14.190.000đồng (mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền của cá nhân ông cho bị cáo T mượn để khắc phục hậu quả. Ông D tự nguyện cho bị cáo mượn tiền để bồi thường, khắc phục hậu quả cho Đình làng Diện là do bị cáo là con đẻ của ông, ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho ông số tiền nêu, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của ông D nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 thùng cattong ký hiệu T, bên trong có: 01 (một) quần vải bò dài màu xanh, phần cạp quần bên ngoài phía sau có gắn chữ “DESIGN HN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải dài tay gắn liền mũ (dạng áo chống nắng) màu đen, phần cánh tay phía bên ngoài có sọc kẻ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải bò màu xanh, phần cạp quần bên trong có chữ “CLASSIC MILAN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh, phần ngực phía trước bên trái của áo có thêu chữ “GUCCI”, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép cao su màu đen (dạng dép tông), phần quai dép có in hình động vật màu trắng trên nền màu đỏ, đã qua sử dụng là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản tại Đ làng D ngày 20/01/2024 và 01 ống kim loại hình hộp vuông, kích thước 2x27cm, ở đầu được hàn một thanh kim loại đặc vuông, dài 15cm, đã qua sử dụng T sử dụng để cậy phá khoá giá để chuông, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) chiếc then cửa bằng kim loại đã qua sử dụng là tài sản của Đ2 làng D, cần trả lại cho Đ2 làng Diện để quản lý, sử dụng.
- - Đối với 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “MEINFA”, chiều dài 23,5cm và 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “THAI NGUYEN”, “KTN”, chiều dài 19cm, đều đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, T khai 02 chiếc kìm trên là công cụ T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Đình Thanh G, tuy nhiên đến nay chưa có căn cứ xác định hành vi này nên được tiếp tục lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Công an thành phố P.
[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước; Bị cáo, bị hại/đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Về vấn đề khác: Đối với các tài sản bị trộm cắp tại Đền T1, Đình Thanh Q và Đình Thanh G, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản tuy nhiên Hội đồng định giá tài sản thành phố P không tiến hành định giá được. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với đối tượng Phạm Huy H, theo Đỗ Văn T khai có hành vi rủ rê và cùng T đi trộm cắp tài sản, T chỉ biết tên và năm sinh nhưng không biết địa chỉ cụ thể của H. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Trong vụ án này còn có bà Nguyễn Thị L1 là người mua tài sản của Đỗ Văn T, tuy nhiên bà L1 không biết tài sản đó là do T trộm cắp mà có được nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà L1 là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 136, 329, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 02/3/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại (Đại diện Đình làng Diện) đã nhận được tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Đỗ Văn D không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả số tiền đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại nên không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cattong ký hiệu T, bên trong có: 01 (một) quần vải bò dài màu xanh, phần cạp quần bên ngoài phía sau có gắn chữ “DESIGN HN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải dài tay gắn liền mũ (dạng áo chống nắng) màu đen, phần cánh tay phía bên ngoài có sọc kẻ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải bò màu xanh, phần cạp quần bên trong có chữ “CLASSIC MILAN”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh, phần ngực phía trước bên trái của áo có thêu chữ “GUCCI”, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép cao su màu đen (dạng dép tông), phần quai dép có in hình động vật màu trắng trên nền màu đỏ, đã qua sử dụng là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản tại Đ làng D ngày 20/01/2024;
- Trả lại Đ2 làng Diện 01 (một) chiếc then cửa bằng kim loại đã qua sử dụng để quản lý, sử dụng.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 ống kim loại hình hộp vuông, kích thước 2x27cm, ở đầu được hàn một thanh kim loại đặc vuông, dài 15cm, đã qua sử dụng là công cụ T sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “MEINFA”, chiều dài 23,5cm và 01 (một) kìm sắt hoen rỉ, tay cầm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chữ “THAI NGUYEN”, “KTN”, chiều dài 19cm, đều đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, T khai 02 chiếc kìm trên là công cụ T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Đình Thanh G, tuy nhiên đến nay chưa có căn cứ xác định hành vi này nên được tiếp tục lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Công an thành phố P.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục THADS thành phố P).
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Dung |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản
