|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/DS-PT Ngày 07 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Vinh.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Đắc Đương
Ông Đặng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Bà Lê Thị Thanh Xuân, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107/2024/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Thái H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
Bị đơn: Bà Sơn Thị N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt có lý do)
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn: Ông Sơn Na L, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vương Thị Kim M, sinh năm 1969; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Ông Trần Vương Phương T, sinh năm 1993; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bà Trần Vương Phương H1, sinh năm 1996; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Ông Trần Vương Thái H2, sinh năm 2001; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người kháng cáo: ông Trần Thái H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2020 của nguyên đơn ông Trần Thái H và trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến trình bày và yêu cầu như sau:
Vào năm 2003 ông Trần Thái H có mua của ông Thạch Sa H3 một thửa đất diện tích 760m², thuộc thửa số 1734, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi mua thì ông sử dụng ổn định cho đến nay. Trong quá trình sử dụng thì vào năm 2018, bà Sơn Thị N mua phần đất kế phần đất của ông Thái H và xây dựng hàng rào lấn qua phần đất của ông Thái H. Do đó, ông Thái H khởi kiện yêu cầu bà Sơn Thị N trả lại diện tích 19m² nằm trong diện tích 450m², thửa số 49, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra, bà N phải tháo dỡ hàng rào xây dựng, bồi thường 15 bao đất tấn, 5 trụ bê tông dài 2,5m, 01 cây gòn và mái tol nhà củi với giá trị bằng 3.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp cho bị đơn bà Sơn Thị N là ông Sơn Na L trình bày: Vào năm 2018, bà Sơn Thị N có mua của ông Lường Văn T1 một thửa đất có diện tích 450m² thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi mua thì bà N xây dựng hàng rào xung quanh đất thì ông Trần Thái H ngăn cản. Bà N đã mua và sử dụng đúng theo thửa đất của bà N. Nay ông Trần Thái H yêu cầu trả lại diện tích 19m² thì bà N không đồng ý và cũng không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Thái H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thái H là yêu cầu bà Sơn Thị N trả lại diện tích 19m² nằm trong diện tích 450m², thửa số 49, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Yêu cầu bà N phải tháo dỡ hàng rào xây dựng, bồi thường 15 bao đất tấn, 5 trụ bê tông dài 2,5m, 01 cây gòn và mái tol nhà củi với giá trị bằng 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 05 tháng 10 năm 2023, ông Trần Thái H là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, buộc bà Sơn Thị N phải hoàn trả lại diện tích 19m² đã lấn chiếm xây dựng và tháo hàng rào xây dựng; buộc bà N phải bồi thường 18 bao tấn đất, 5 trụ bê tông dài 2,5m, 01 cây gòn và mái toln nhà củi với giá trị bằng 3.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo; bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến; các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Các đương sự không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mới và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn kháng cáo đối với số tiền bồi thường thiệt hại 3.000.000 đồng và diện tích chênh lệch so với yêu cầu khởi kiện là 6,7m² nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này. Đối với kháng cáo yêu cầu giải quyết diện tích diện tích 12,3m² theo kết quả khảo sát đo đạc ngày 24/7/2024, nhận thấy: Thửa đất 1734, diện tích 760m² (nay là thửa đất 28) của nguyên đơn ông Trần Thái H và thửa đất 1841 (nay là thửa đất 49) là của bị đơn bà Sơn Thị N đều có nguồn gốc là của ông Thạch Sa H3. Ông Thạch Sa H3 tách thửa đất 1734 chuyển nhượng cho ông Trần Thái H, thửa đất 1841 diện tích 450m² ông Thạch Sa H3 tách thửa chuyển nhượng Lý Kính N1, Lý Kính N1 chuyển nhượng cho Lường Văn T1, Lường Văn T1 chuyển nhượng cho bà Sơn Thị N. Căn cứ vào hồ sơ xác định ranh giới vào năm 2003 có trụ đá cặm ranh nhưng nay đã thay đổi do các đương sự di dời, tuy nhiên ông H3 với ông T1 trước đây có ký biên bản giáp ranh xác định diện tích thửa đất 1734 có chiều ngang 10m phía trước và sau, nhưng kết quả thẩm định ở cấp sơ thẩm phía sau chỉ còn 9,3m² nhưng lại kết luận diện tích tranh chấp 0,7m² nằm thửa đất 49. Nên ông H3 yêu cầu thẩm định lại. Theo kết quả của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T xác định phần diện tích tranh chấp 12,3m² thuộc thửa đất 1734 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn tư liệu 1992. Phần này cũng nằm thửa đất 49 cấp giấy chứng nhận đất cho bà N năm 2019 tư liệu năm 2006. Như vậy, phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Nên buộc bị đơn trả lại diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý nhận giá trị đất số tiền 16.520.000 đồng và giao diện tích tranh chấp cho bị đơn quản lý sử dụng. Nên ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn, buộc bị đơn trả giá trị đất với số tiền 16.520.000 đồng. Kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản sơ thẩm số 120/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Thái H còn trong hạn pháp luật quy định, nội dung và hình thức đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, ông H tự nguyện rút lại một phần yêu cầu kháng cáo diện tích chênh lệch là 6,7m² (19m² – 12,3m²) và rút yêu cầu bà N bồi thường 15 bao đất tấn, 5 trụ bê tông dài 2,5m, 01 cây gòn và mái tol nhà củi với số tiền là 3.000.000 đồng. Xét thấy việc ông H rút một phần đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Thái H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Thửa đất 1734 của nguyên đơn ông Trần Thái H và thửa đất 49 là của bị đơn bà Sơn Thị N đều có nguồn gốc là của ông Thạch Sa H3. Ông Thạch Sa H3 tách thửa đất 1734 chuyển nhượng cho ông Trần Thái H vào năm 2003, thửa đất 1841 (nay là thửa 49), diện tích 450m² ông Thạch Sa H3 tách thửa chuyển nhượng Lý Kính N1, Lý Kính N1 chuyển nhượng cho Lường Văn T2, Lường Văn T2 chuyển nhượng cho bà Sơn Thị N vào năm 2018. Hai thửa đất tiếp giáp liền kề với nhau, các bên sử dụng ổn định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định về lĩnh vực đất đai, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã trực tiếp sử dụng từ trước cho đến nay, không có ai khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tại công văn số 271/CNHCT ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh thể hiện phần đất tranh chấp là 19m² thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 50, đất tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho bà Sơn Thị N (theo tài liệu đo đạc năm 2006).
Tại văn bản số 1643/CNHCT, ngày 14/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thông tin phần diện tích được đo đạc theo hiện trạng là 723m² thuộc thửa 28, tờ bản đồ số 50 (tài liệu đo đạc năm 2006), so với tài liệu năm 1992 nhằm thửa 1734, tờ bản đồ số 8, diện tích 760m². Tại văn bản số 737/CNHCT ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thông tin phần diện tích giảm 37m² do chênh lệch giữa hai tài liệu, không xác định được vị trí.
Tại văn bản số 524/CCTT-CNHCT ngày 17/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thể hiện quá trình biến động đất qua các thời kỳ của hai thửa đất từ năm 1983 cũng thể hiện không có lịch sử biến động việc giảm diện tích của thửa 1734.
Căn cứ vào hồ sơ xác định ranh giới có trụ đá cặm ranh nhưng nay đã thay đổi do các đương sự di dời, tuy nhiên ông H3 với ông T2 trước đây có ký biên bản giáp ranh xác định diện tích thửa đất 1734 có chiều ngang 10m phía trước và phía sau, nhưng kết quả thẩm định ở cấp sơ thẩm phía sau chỉ còn 9,3m² nhưng lại kết luận diện tích tranh chấp 0,7m² nằm thửa đất 49.
Xét về quá trình sử dụng đất: Năm 2003, ông Trần Thái H đã nhận chuyển nhượng thửa số 1734, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh từ ông Thạch Sa H3 và đã quản lý, sử dụng ổn định diện tích của thửa 1734. Đến năm 2018, bà Sơn Thị N mới nhận chuyển nhượng thửa số 49, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh từ ông Lường Văn T1, sau đó thì các bên mới phát sinh tranh chấp vì ông H3 cho rằng bà N đã sử dụng lấn sang thửa 1734 của ông. Tại Công văn số 815/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 24/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thể hiện phần đất tranh chấp do nguyên đơn và bị đơn xác định là 12,3m² (phần A, A1) thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 50 (theo tài liệu đo đạc năm 2006, biên tập lại năm 2018) và thuộc thửa 1734, tờ bản đồ số 8 (theo tài liệu đo đạc năm 1992). Hiện tại bà Sơn Thị N sử dụng diện tích 11,8m² (phần A1) là thuộc thửa 1734 của ông Trần Thái H, quá trình biến động đất không thể hiện ông H có giao cho bà N sử dụng mà do bà N sử dụng lấn chiếm qua diện tích đất của ông H.
Từ những nhận định trên, có căn cứ xác định phần diện tích đất tranh chấp 12,3m² (phần A, A1) là thuộc thửa 1734 của ông Trần Thái H. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thái H là có căn cứ.
[4] Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh thể hiện phần A (diện tích 0,5m²) hiện do ông Trần Thái H quản lý, sử dụng; phần A1 (diện tích 11,8m²) hiện do bà Sơn Thị N quản lý, sử dụng và đã xây dựng hàng rào kiên cố ranh đất giữa thửa 1734 và thửa 49. Vì vậy, tiếp tục giao bà N quản lý, sử dụng phần A1 (diện tích 11,8m²) và buộc bà N phải trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông H.
Tại Biên bản định giá ngày 31/8/2023, đất tranh chấp có giá là 1.400.000 đồng/1m² (1.400.000 x 11.8m² = 16.520.000 đồng). Tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự thống nhất với kết quả định giá này.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thái H.
Công nhận phần A (diện tích 0,5m²) cho ông H tiếp tục quản lý, sử dụng.
Công nhận phần A1 (diện tích 11,8m²) cho bà Sơn Thị N quản lý, sử dụng và bà N phải hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông H.
[5] Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm còn có sai sót: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện vụ án có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự
có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Tuy nhiên, trong hồ sơ hoàn toàn không có bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N2 nhận và tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự xác định hoàn toàn không biết ai tên Nguyễn Văn N2, việc giải quyết vụ án hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn N2.
Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 49 cho bà Sơn Thị N có chồng lấn lên một phần diện tích thửa 1734 của ông Trần Thái H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, quá trình xét xử cấp phúc thẩm xét thấy việc hủy án cũng không làm thay đổi bản chất, nội dung xét xử vụ án. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành cần rút kinh nghiệm.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không bị cải sữa có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo kháng nghị.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H được chấp nhận nên bà Sơn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bà N có trách nhiệm trả cho ông Trần Thái H.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thái H được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thái H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đối với diện tích chênh lệch là 6,7m² yêu cầu bà N bồi thường 15 bao đất tấn, 5 trụ bê tông dài 2,5m, 01 cây gòn và mái tol nhà củi với số tiền là 3.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thái H.
Công nhận phần A (diện tích 0,5m²) cho ông H tiếp tục quản lý, sử dụng.
Công nhận phần A1 (diện tích 11,8m²) cho bà Sơn Thị N quản lý, sử dụng và bà N phải hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông H với số tiền là 16.520.000 đồng.
(Kèm theo Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 815/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 24/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Ông Trần Thái H đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 1734 giảm diện tích như bản án đã tuyên (tức phần A1 = 11,8m²).
Về chi phí thẩm định, định giá và lệ phí yêu cầu cung cấp thông tin: Tổng số tiền bằng 7.203.216 đồng. Bà Sơn Thị N phải chịu, nhưng do ông Trần Thái H đã đóng tạm ứng xong nên số tiền thu được từ bà N sẽ hoàn trả lại cho ông H.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sơn Thị N phải chịu 976.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Thái H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 118/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thái Hoàng - Sơn Thị Nhi Tranh chấp quyền sử dụng đất
