|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/DS- PT Ngày: 04/6/2024 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng
Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 03 và 04/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2023/TLPT- DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 54/2024/QĐ-PT ngày 24/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 80/2024/QĐ- PT ngày 05/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 52/2024/QĐ- PT ngày 05/4/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện V (nay là TDP B, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện V (nay là TDP B, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện V (nay là TDP B, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1988
- UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bà Thân Thị L đại diện theo ủy quyền (Có đơn xin vắng mặt)
- UBND phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang do ông Trần Hồng H1 – Phó Chủ tịch UBND phường V theo ủy quyền. (có đơn xin vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976 (Có đơn xin vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1996 (Có đơn xin vắng mặt)
Ủy quyền cho anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (Có mặt)
Các đương sự cùng địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện V (nay là TDP B, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện V (nay là TDP B, phường V, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: S, T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Diện tích đất anh T đang sử dụng hiện nay có nguồn gốc là đất ao của các cụ để lại bản đồ năm 1976 và 1988 là số thửa 221, thôn B, xã V, diện tích 940m², anh T sử dụng đến năm 2001 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 742m², đến năm 2018 đo lại diện tích thực tế là 901,8m². Năm 1989, 1990 khi đó bố anh là ông Nguyễn Văn T2 còn sống đã xây dựng bức tường bao, ông T2 có thuê ông Thân Đức T3, Nguyễn Văn S, Thân Đức P là người cùng thôn, Nguyễn Văn T (Y, Yên D) và ông Thân Đức C1 (Đã chết). Tường bao xây toàn bộ đất hiện nay nguyên liệu chính bằng đá chiều rộng móng 50cm đến 1m bên trên 25cm đến 30cm, chiều dài tiếp giáp với anh H là khoảng hơn 40m; chiều cao khoảng 70cm, sau quá trình sử dụng cải tạo nền đất hiện nay cao hơn khoảng 25cm đến 30 cm. Hiện nay tường bao cũ vẫn còn nguyên hiện trạng. Năm 2009 anh H mới tân lấp ao để chăn nuôi gà, khi đó để tránh gà sang nhà hàng xóm, anh H có nói chuyện với bố anh là ông T2 để xây tường bao chồng lên phần móng tường bố anh đã xây dựng trước đó, anh H xây lên cao hơn 1m tính từ phần tường ông T2 đã xây dựng trước. Năm 2021 khi đó anh H xây phòng trọ lấy tường bao ông T2 đã xây làm móng phòng trọ, gia đình anh T không đồng ý đã làm đơn lên UBND xã V giải quyết; UBND xã đã đề nghị anh H đình chỉ xây dựng, nhưng anh H vẫn tiếp tục xây dựng. Nay anh yêu cầu anh H trả lại diện tích đất lấn chiếm có chiều dài 22m chiều rộng 0,35m diện tích 7,7m².
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Diện tích đất anh đang sử dụng hiện nay có từ lâu đời trước kia là ao của kỵ Dương Văn C2 (chết đã lâu) để lại cho cụ Nguyễn Văn T4, sinh năm 1918 chết năm 1994, sau để lại cho bố anh là Nguyễn Văn C đến năm 2009 ông C bàn giao lại cho anh quản lý sử dụng hiện nay, hiện nay diện tích đất này tại số thửa 373, tờ bản đồ 31 diện tích 431,7m² ở thôn B, xã V, huyện V. Năm 1989 giữa ông T4 và ông T2 có đổi đất cho nhau thể hiện ở biên bản đổi đất ngày 20/12/1989. Năm 2021 anh có xây dựng dãy nhà trọ tiếp giáp với nhà anh T thì xẩy ra tranh chấp giữa hai bên gia đình. Khi anh làm nhà trọ thì đã có bức tường bao làm ranh giới giữa hai nhà. Năm 2009, anh xây tường bao này (ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn X, Thân Đức H2 là người cùng thôn B, xây dựng cho gia đình anh). Khi anh xây dựng nhà trọ năm 2021 thì xây chồng lên tường bao này dài khoảng 10.90m, chiều rộng khoảng 30-40cm. Đến nay anh T yêu cầu anh trả lại diện tích đất lấn chiếm có chiều dài 22m chiều rộng 0,35m diện tích 7,7m² anh không lấn chiếm diện tích đất của anh T nên không đồng ý trả lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
UBND huyện V:
Diện tích đất đang có tranh chấp là một phần diện tích khu vực thửa 372, tờ bản đồ số 31, diện tích 901,8m² và thửa số 373, tờ bản đồ số 31, diện tích 431,7m²; địa chỉ tại thôn B, xã V (đo đạc nghiệm thu năm 2017). Kiểm tra quy hoạch sử dụng đất huyện V được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định 733/QĐ-UBND ngày 21/7/2021, hiện nay diện tích thuộc 2 thửa đất này quy hoạch sử dụng đất là đất ở. Theo báo cáo số 93/BC-UBND ngày 24/5/2023 của UBND xã V nguồn gốc phần diện tích đất đang tranh chấp trước đây là đất của gia đình ông Dương Văn T5, ông Nguyễn Văn T4 liền kề với một thửa đất ao của ông Nguyễn Văn T2 (bố ông T). Do không có lối để đi vào thửa đất ao nên gia đình ông T2 đã thống nhất với gia đình ông T5, ông T4 đổi một phần đất để lấy lối đi vào thửa đất của gia đình từ năm 1989.
Quá trình sử dụng đất: Năm 1990-1991 sau khi đổi đất gia đình ông T2 đã xây dựng bờ ao kè đá đắp đường lấy lối vào thửa đất, hiện trạng hiện nay lối vào gia đình đã đổ bê tông. Gia đình ông Nguyễn Văn H (hộ liền kề) đã xây dựng công trình nhà trọ cho công nhân thuê trong đó có xây tường nhà trọ trên nền móng bờ kè đá lối đi mà gia đình ông T2 (T) tân tạo trước đó.
* Đối với quan điểm về việc giao đất: Theo Báo cáo của UBND xã V, gia đình ông T2 (T) sử dụng diện tích đang tranh chấp làm lối đi từ năm 1989 đến nay. Do đó, có cơ sở để TAND huyện xem xét tạm giao cho gia đình ông T2 (T) tiếp tục sử dụng diện tích tranh chấp làm đường đi như trước đây.
* Quan điểm của Ủy ban huyện về việc xây dựng nhà và các công trình trên đất khi ông H chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Phần diện tích đất ông H xây dựng công trình thuộc đất khu vực nông thôn không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng nên việc xây dựng công trình khi chưa được cấp GCN QSD đất không vi phạm pháp luật (trừ trường hợp xây dựng công trình trên đất không phải là đất ở).
UBND xã V
trình bày: Thửa đất anh Nguyễn Văn H đang sử dụng là thửa số 373, tờ bản đồ số 31, thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang, hiện tại chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2021 anh H xây dựng nhà trọ trên thửa đất này không được cấp phép do xã V là xã nông thôn, theo quy định không phải cấp phép xây dựng khi xây dựng công trình, khi anh H xây dựng UBND xã không có văn bản đình chỉ xây dựng đối với anh H, ngày 06/4/2021 UBND xã có cử cán bộ chuyên môn xuống lập biên bản, yêu cầu anh H tạm dừng việc xây dựng vì hai gia đình đang có tranh chấp.
Ông Nguyễn Văn C trình bày: Diện tích đất anh H sử dụng hiện nay có từ lâu đời trước kia là ao của cụ Dương Văn C2 (chết đã lâu) sau đó để lại cho ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1918 chết năm 1994 (là bố đẻ ông) sau đó để lại cho ông đến năm 2009 ông bàn giao lại cho anh H quản lý sử dụng, hiện nay toàn quyền sử dụng đất là của vợ chồng anh H, ông không liên quan gì. Năm 1989 giữa ông T4 và ông T2 khi đó do ông đi công tác không có ở nhà nên không biết việc đổi đất đến năm 1992 ông mới biết việc đổi đất này và ông còn giữ được giữ được biên bản đổi đất ngày 20/12/1989 Biên bản do ông T2 lập có sự chứng kiến của ông Dương Văn T5, ông Thân Đức T3, ông Nguyễn Văn H3. Năm 2009 anh H xây tường bao thì có ông có nói chuyện với ông T2 (bố đẻ anh T) về ranh giới đất, sau đó hai bên thống nhất ranh giới, anh H xây tường bao ông T2 và anh H không ý kiến gì, sau đó anh T xây trụ cổng tiếp giáp với góc tường bao gia đình anh H đã xây.
Chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Chị là vợ anh Nguyễn Văn T, năm 1995 chị kết hôn cùng anh T về nhà chồng sinh sống, năm 1998 ông T2 để lại diện tích đất này cho vợ chồng chị; khi chị về sinh sống thì đã có đầy đủ tường bao xung quanh đất, sau đó anh H đã mượn tường bao nhà chị để xây tường bao nhằm mục đích tránh gà hay con vật khác sang nhà nhau để tránh xung đột vì khi đó tường bao nhà chị chỉ cao khoảng 70cm, sau đó gia đình anh H đã chiếm tường bao xây dựng công trình kiên cố nên hai bên xẩy ra tranh chấp. Nay chị yêu cầu anh H trả lại cho gia đình chị phần tường bao đã lấn chiếm.
Chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị là con của ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị T1, khi còn nhỏ sống cùng bố mẹ đến năm 2015 thì lấy chồng về T, V; nguồn gốc diện tích đất bố mẹ chị đang ở hiện nay là do ông nội chị để lại cho bố mẹ chị. Trong quá trình sử dụng đất ông H đã xây dựng nhà trọ lấn chiếm phần tường bao ông nội chị đã xây dựng trước, chị đề nghị Tòa án xem xét cho gia đình chị.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) đã quyết định:
Khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 143, Điều 144; Điều 147, Điều 157, Điều 165; Điều 271, Điều 273; Điều 227; Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 175, Điều 176, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 203, Điều 170 Luật đất đai năm 2013
Khoản 2, Điều 26, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 Luật thi hành án dân sự.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T, buộc anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N phải trả cho anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 số tiền là 84.201.600đ; Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N được sử dụng diện tích đất 6m² và phần tường bao bằng đá diện tích 4,2m².
Diện tích đất có tứ cận như sau: Phần 1: Phía Đông Nam giáp đường 30cm, Phía Đông Bắc tiếp giáp nhà anh H dài 10,37m, phía Tây Nam giáp ngõ nhà anh T dài 10,49m diện tích 3,1m²; Phần 2 Phía Đông Bắc giáp nhà anh H 0,3m; phía Đông Nam giáp nhà anh H, phía Tây Bắc giáp nhà anh T dài 9,7m diện tích 2,9m².
(Có sơ đồ kèm theo bản án)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá, quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 24/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Năm 2009 anh xây nhà 2 tầng, đến năm 2010, anh tân ao giáp lối đi nhà anhi và anh T và xây tường bao, bố anh T và bố anh đã đồng ý xây. Năm 2021 khi nhà anh xây nhà trọ không đào móng thì anh Q đã vào chửi bới. Tôi kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Gia đình anh có giấy đổi đất năm 89 đổi cổng đi ra vào. Gia đình anhkhông có chồng lấn gì đối với đất nhà anh T.
Anh Nguyễn Văn Q - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Năm 1988 - 1989, bản chất đối đất là với bà nội anh H và ông cậu của anh H. Khi tiến hành xây thì bà nội anh H là người cắm cọc cho bố anh xây tường. Từ những năm 1988 bố anh đã xây những bức tường đá sâu từ 2-4m. Khi gia đình anh H ra đây ở thì bố anh H có đặt vấn đề là xây bờ tường cao để tránh gà qué chạy sang. Khi nhà anh H xây nhà trọ không làm nổi móng nên muốn mượn bờ đá nhà anh để xây nên gia đình anh không đồng ý. Năm 2018 tỉnh Bắc Giang đo đạc lại đất của toàn bộ tỉnh Bắc Giang đất nhà anh mới được 901m2. Diện tích nhà H không lấn tại sao lại tăng lên. Anh không đồng ý với kháng cáo của anh H. Anh không đồng ý với kết quả đo đạc ngày 16/5/2024.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị HDDXX áp dụng khoản 2 Điều 308, chấp nhận một phần kháng cáo của anh H, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc vợ chồng anh H, chị N trả cho anh T, chị T1 48 triệu đồng. Anh H, chị N được quản lý, sử dụng diện tích 6m2 và phần tường bao bằng đá diện tích 4,2m2; sửa phần án phí dân sự sơ thẩm; Anh H, chị N phải chịu chi phí thẩm định ở cấp phúc thẩm, anh T, chị N phải chịu ½ chi phí định giá.
Anh H không phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt ông C là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H trả lại diện tích đất lấn chiếm có chiều dài 22m chiều rộng 0,35m diện tích 7,7m2. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn phải phá bỏ toàn bộ công trình xây dựng trên đất trả lại diện tích đất theo kết quả thẩm định là 6m² gồm hai phần diện tích 3,1m² và 2,9m² ở thửa được ký hiệu là số 372 và 373 tờ bản đồ 31, thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang có tứ cận như sau: Phần 1: Phía Đông Nam giáp đường 30cm, Phía Đông Bắc tiếp giáp nhà anh H dài 10,37m, phía Tây Nam giáp ngõ nhà anh T dài 10,49m diện tích 3,1m²; Phần 2 Phía Đông Bắc giáp nhà anh H 0,3m; phía Đông Nam giáp nhà anh H, phía Tây Bắc giáp nhà anh T dài 9,7m diện tích 2,9m². Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là một phần diện tích khu vực thửa 372, tờ bản đồ số 31, diện tích 934,7m² và thửa số 373, tờ bản đồ số 31, diện tích 431,3m²; địa chỉ tại thôn B, xã V (Theo kết quả thẩm định tại chỗ).
Xét thấy: Nguồn gốc phần diện tích đất đang tranh chấp trước đây là đất của gia đình ông Dương Văn T5, ông Nguyễn Văn T4 liền kề với một thửa đất ao của ông Nguyễn Văn T2 (bố ông T). Do không có lối để đi vào thửa đất ao nên gia đình ông T2 đã thống nhất với gia đình ông T4 đổi một phần đất để lấy lối đi vào thửa đất của gia đình từ năm 1989 được thể hiện tại Biên bản đổi đất ngày 22/12/1989 với nội dung "Để tiện việc sử dụng số đất mà Hợp tác xã đã đo đạc tính vào đất phần trăm là số đất của gia đình ông Nguyễn Văn T2 là 30m², số đất bờ ao giáp nhà anh V của nhà ông T5 cho ông T4 để đổi cho gia đình anh T2 số lượng là 22m² còn thiếu 8m², gia đình ông T4 cạp ở bờ phía ao nhà ông T5 để trả cho gia đình anh T6 8m² theo chiều dài của bờ ao, chiều cao bằng nguyên bề mặt cũ của bờ", việc đổi đất chỉ ghi diện tích không ghi chiều dài chiều rộng cụ thể.
Việc xây dựng bức tường bao bằng đá đang tranh chấp hiện nay: Quá trình sử dụng đất: Năm 1990-1991 sau khi đổi đất gia đình ông T2 đã xây dựng bờ ao kè đá đắp đường lấy lối vào thửa đất ông T2 có thuê ông Thân Đức T3, Nguyễn Văn S, Thân Đức P là người cùng thôn, Nguyễn Văn T (Y, Yên D) và ông Thân Đức C1 (Đã chết). Tường bao xây toàn bộ đất hiện nay nguyên liệu chính bằng đá chiều rộng móng 50cm đến 1m bên trên 25cm đến 30cm khi này phía diện tích nhà anh H vẫn là ao.
Anh H cho rằng năm 2009, anh H xây tường bao này (ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn X, Thân Đức H2 là người cùng thôn B, xây dựng), đến khi xây dựng nhà trọ năm 2021 thì xây chồng lên tường bao này dài khoảng 10.90m, chiều rộng khoảng 30-40cm; Tòa án xác minh kết quả năm 2009 khi anh H xây dựng tường bao thì đã có móng và bờ kè đá lối đi mà gia đình ông T2 (T) tân tạo trước đó.
Tại cấp phúc thẩm, anh Nguyễn Văn H đề nghị xem xét thẩm định và định giá lại tài sản. Ngày 16/5/2024, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định, định giá lại theo yêu cầu của bị đơn. Kết quả thẩm định tại chỗ sau khi áp bản đồ năm 2018 thể hiện diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh Nguyễn Văn T và diện tích đất của gia đình anh Nguyễn Văn H không đổi và không xác định có sự chồng lấn, diện tích phần tường bao tranh chấp nằm trong diện tích đất nhà anh Nguyễn Văn H đang quản lý, sử dụng. Phía nguyên đơn không đồng ý với kết quả thẩm định, định giá tài sản ngày 16/5/2024 và đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả định giá, thẩm định tại cấp sơ thẩm để làm căn cứ giải quyết vụ án. HĐXX xét thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh Nguyễn Văn T được cấp năm 2001, trước khi có bản đồ năm 2018. Bản đồ năm 2018 này được đo vẽ dựa trên hiện trạng sử dụng đất của các hộ nên việc sử dụng kết quả đo vẽ dựa trên bản đồ này không thể hiện chính xác có việc tranh chấp giữa gia đình anh Nguyễn Văn T và gia đình anh Nguyễn Văn H hay không. Do đó, cần căn cứ vào kết quả thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2022 để làm căn cứ giải quyết vụ án. Năm 2001 gia đình anh Nguyễn Văn T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 742m², đối chiếu với kết quả thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2022 diện tích phần tường bao tranh chấp nằm trong diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà nước đã cấp cho anh T. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định, gia đình anh Nguyễn Văn H đã xây chồng lấn lên bức tường đá của gia đình anh T và sử dụng lấn chiếm sang phần đất của gia đình anh Nguyễn Văn T 6m2. Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại cấp phúc thẩm, anh Nguyễn Văn H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Từ những phân tích trên, HĐXX sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T là có căn cứ, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn H. Tuy nhiên hiện nay đường đi của gia đình anh T chiều rộng giáp mặt đường là 2,74m, phần giáp cổng là 3,61m việc thiếu 30cm chiều rộng không ảnh hưởng nhiều đến lối đi của gia đình anh T, việc phá dỡ bức tường ảnh hưởng đến công trình anh H đã xây dựng mặt khác theo văn bản trả lời của UBND huyện V thì diện tích anh H xây dựng quy hoạch sử dụng là đất ở cho nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự cần buộc anh H phải trích trả giá trị diện tích đất tranh chấp cho anh T theo giá trị Hội đồng định giá là phù hợp, anh H được quyền sử dụng diện tích đất này. Căn cứ biên bản định giá ngày 16/5/2024, Hội đồng định giá xác định giá đất thực tế tại địa phương là 8.000.000đ/m2. Như vậy, phần diện tích anh Nguyễn Văn H lấn chiếm của gia đình anh Nguyễn Văn T có giá: 6m2 x 8.000.000đ = 48.000.000đ. Do giá đất tại thời điểm xét xử phúc thẩm có thay đổi theo hướng giảm so với thời điểm xét xử phúc thẩm nên cần sửa bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về chi phí định giá và thẩm định:
- [3.1] Về chi phí định giá và thẩm định ở cấp sơ thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Văn H phải chịu 6.200.000 tiền chi phí thẩm định, định giá. Anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T1 được nhận lại số tiền này.
- [3.2] Về chi phí định giá và thẩm định ở cấp phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Văn H phải chịu 14.600.000đ chi phí thẩm định tài sản. Do giá đất có sự thay đổi, giảm so với thời điểm xét xử sơ thẩm nên anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn H mỗi bên chịu 1.050.000đ chi phí định giá tài sản. Xác nhận Anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ 14.600.000đ chi phí thẩm định tài sản và 1.050.000đ chi phí định giá tài sản. Anh Nguyễn Văn H được nhận lại 1.050.000đ chi phí định giá tài sản từ anh Nguyễn Văn T.
[4] Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của anh T được chấp nhận nên không phải chịu án phí, anh H, chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 3, Điều 26, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên anh Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Áp dụng Khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 143, Điều 144; Điều 147, Điều 157, Điều 165; Điều 227; Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 175, Điều 176, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 203, Điều 170 Luật đất đai năm 2013
Khoản 2, Điều 26, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 Luật thi hành án dân sự.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T, buộc anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N phải trả cho anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 diện tích đất lấn chiếm là 6m2 trị giá bằng tiền là 48.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N được sử dụng diện tích đất 6m² có tứ cận như sau: Phần 1: Phía Đông Nam giáp đường 30cm, Phía Đông Bắc tiếp giáp nhà anh H dài 10,37m, phía Tây Nam giáp ngõ nhà anh T dài 10,49m diện tích 3,1m²; Phần 2 Phía Đông Bắc giáp nhà anh H 0,3m; phía Đông Nam giáp nhà anh H, phía Tây Bắc giáp nhà anh T dài 9,7m diện tích 2,9m².
(Có sơ đồ kèm theo bản án)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N được chủ động đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất diện tích đất nêu trên.
- Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.400.000đ.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án
Anh Nguyễn Văn H không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh H số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0007070 ngày 24/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.
- Về tiền chi phí thẩm định, định giá:
- 4.1 Về chi phí định giá và thẩm định ở cấp sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N phải chịu 6.200.000đ tiền chi phí thẩm định, định giá. Số tiền chi phí tố tụng anh H, chị N phải trả sẽ được trả cho anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T1.
- 4.2. Về chi phí định giá và thẩm định ở cấp phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 14.600.000đ chi phí thẩm định tài sản và 1.050.000đ chi phí định giá tài sản. Xác nhận Anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ 14.600.000đ chi phí thẩm định tài sản và 1.050.000₫ chi phí định giá tài sản.
Anh Nguyễn Văn T phải chịu 1.050.000đ chi phí định giá tài sản. Số tiền chi phí tố tụng anh T phải chịu sẽ được trả cho anh Nguyễn Văn H.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 118/2024/DS- PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 118/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
