Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 118/2025/HSST

Ngày: 11/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuý;
  2. Ông Trần Ngọc Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Vĩnh P, sinh năm 1988 tại Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Đặng Hữu T (chết); Con bà Võ Thị H, sinh năm 1964; Có vợ: Nguyễn Thị Yến O, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Có 02 người con: Lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Anh, chị, em ruột: Có 03 người; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 14/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đỗ Thị Thanh T1, sinh năm 1990, tại Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ F, KP H, P. Q, TP ., tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ F, KP H, P. Q, TP ., tỉnh Bình Định; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Đỗ Thanh T2, sinh năm 1967; Con bà: Phạm Thị Bích L, sinh năm 1965; Có 02 người con: Lớn nhất sinh 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/6/2020, bị Phòng C Công an tỉnh B xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác".

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/9/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ F, KP H, P. Q, TP ., tỉnh Bình Định (Vắng mặt );
  2. Bà Võ Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biển tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 05/9/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh B phối hợp Công an phường Q, thành phố Q tiến hành kiểm tra hành chính ngôi nhà số C V, phường Q, thành phố Q, phát hiện Đặng Vĩnh P và Đỗ Thị Thanh T1 có biểu hiện sử dụng ma tuý. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ trong hộc tủ gỗ ở phòng trước có bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: Bình thuỷ tinh, ống hút nhựa và nỏ thuỷ tình, dưới nền nhà có 01 gói nilon hàn kín chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý. P và T1 khai nhận ngôi nhà 31 Võ Duy D là của bà Phạm Thị Bích L mẹ ruột của T1 thuê để mua bán, T1 và P đến ở cùng nhau như vợ chồng tại đây. Trưa ngày 05/9/2024, P rủ T1 cùng sử dụng ma tuý, P liên hệ một người nam không rõ lai lịch, mua 300.000 đồng ma tuý và 01 một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, gồm: Bình thuỷ tinh, nó thuỷ tinh và ống hút giá 100.000 đồng, tổng cộng 400.000 đồng, hẹn giao tại công viên gần Bến xe trung tâm Q. Sau đó, P đến nhặt 01 gói ma tuý và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý dưới ghế đá rồi để lại tiền. P đem số ma tuý trên về nhà T1 tại nhà số C V, phường Q, TP ., mượn điện thoại của bà L nhắn tin cho T1 về sử dụng ma tuý. T1 đồng ý và nói P qua nhà số C V, phường Q, TP . chờ. P qua nhà số C V, lấy 01 ít ma tuý đổ ra nỏ để sử dụng thì T1 về. P hàn kín miệng phần ma tuý còn lại rồi đưa cho T1 cất giữ để tiếp tục sử dụng sau. Thuý đặt phần ma túy đó lên phảng gỗ gần chỗ cả hai đang ngồi, rồi cùng P sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bà L qua nhà số C V nên T1 giấu bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vào hộc tủ gỗ bên cạnh phảng gỗ. Sau đó, P nói với T1 phải về nhà phụ mẹ bắt tôm nên không sử dụng ma tuý nữa. Đến 15 giờ 30 phút thì Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện vụ việc.

Ngày 10/9/2024, Phòng C Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 422/KL-KTHS kết luận: 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1481 gam, loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, một đầu cong có hình phễu tròn, một đầu thẳng, bên trong có chất bám dính giám định là ma túy, khối lượng 0,0270 gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự là 247, danh mục II, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, Đặng Vĩnh P và Đỗ Thị Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã thu giữ: 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của "Phòng C - Công an tỉnh B", có chữ ký của Nguyễn Thành T3, Thân Trọng T4, Đoàn Khánh T5 (mỗi người 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: "Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu cong có hình phêu tròn, một đầu thắng và 0,0824 gam mẫu Al còn lại sau giám định".

Cáo trạng số: 66/CT - VKSQN ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Đặng Vĩnh P, về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Truy tố bị cáo Đỗ Thị Thanh T1, về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Đặng Vĩnh P, Đỗ Thị Thanh T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Vĩnh P về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Thị Thanh T1, về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Vĩnh P từ 7 (B) năm 06 (S) tháng tù đến 08 (T6) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội từ 08(T) 09 (Chín) tháng tù đến 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh T1 từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" và 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của "Phòng C - Công an tỉnh B", có chữ ký của Nguyễn Thành T3, Thân Trọng T4, Đoàn Khánh T5 (mỗi người 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: "Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu cong có hình phêu tròn, một đầu thắng và 0,0824 gam mẫu A1 còn lại sau giám định".

Các bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an tỉnh B lập vào lúc 15 giờ 30 ngày 05/9/2024 nên đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Vĩnh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đỗ Thị Thanh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Theo Kết luận giám định số 422/KL-KTHS kết luận: 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1481 gam, loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, một đầu cong có hình phễu tròn, một đầu thẳng, bên trong có chất bám dính giám định là ma túy, khối lượng 0,0270 gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự là 247, danh mục II, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Các bị cáo Đặng Vĩnh P, Đỗ Thị Thanh T1 có đầy đủ sức khỏe, có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết rõ tác hại rất lớn của ma túy gây ra cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm. Do đó, việc cất giữ, mua bán, sử dụng các chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng các bị cáo Đặng Vĩnh P, Đỗ Thị Thanh T1 đã có hành vì tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng.

Cụ thể là: Trưa ngày 05/9/2024, mặc dù biết bị cáo T1 đang có thai nhưng bị cáo P rủ bị cáo T1 sử dụng ma tuý, bị cáo T1 đồng ý, P liên hệ một người nam không rõ lai lịch, mua 300.000 đồng ma tuý và 01 một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, gồm: Bình thuỷ tinh, nó thuỷ tinh và ống hút giá100.000 đồng, tổng cộng 400.000 đồng, hẹn giao tại công viên gần Bến xe trung tâm Q. Sau đó, P đến nhặt 01 gói ma tuý và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý dưới ghế đá rồi để lại tiền. P đem số ma tuý trên về nhà T1 tại nhà số C V, phường Q, TP ., mượn điện thoại của bà L nhắn tin cho T1 về sử dụng ma tuý. T1 đồng ý và nói P qua nhà số C V, phường Q, TP . chờ. P qua nhà số C V, lấy 01 ít ma tuý đổ ra nỏ để sử dụng thì T1 về. P hàn kín miệng phần ma tuý còn lại rồi đưa cho T1 cất giữ để tiếp tục sử dụng sau. Thuý đặt phần ma túy đó lên phảng gỗ gần chỗ cả hai đang ngồi, rồi cùng P sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bà L qua nhà số C V nên T1 giấu bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vào hộc tủ gỗ bên cạnh phảng gỗ. Đến 15 giờ 30 phút thì Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện vụ việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

[3] Hành vi của các bị cáo Đặng Vĩnh P, Đỗ Thị Thanh T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo thì thấy:

  • - Bị cáo Đặng Vĩnh P, chưa có tiền án tiền sự; Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Đỗ Thị Thanh T1 chưa có tiền án, tiền sự; Về nhân thân: Ngày 16/6/2020, bị Phòng C Công an tỉnh B xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác; Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là phụ nữ có thai nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của "Phòng C - Công an tỉnh B", có chữ ký của Nguyễn Thành T3, Thân Trọng T4, Đoàn Khánh T5 (mỗi người 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: "Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu cong có hình phêu tròn, một đầu thắng và 0,0824 gam mẫu A1 còn lại sau giám định".

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về vấn đề khác: Đặng Vĩnh P khai nhận mua ma tuý của người nam không rõ lai lịch ở khu vực gần Bến xe khách Trung tâm Q, P sử dụng sim điện thoại khuyến mãi để liên lạc, sau khi mua được ma túy đã vứt sim trên, không nhớ số điện thoại nên không thể liên lạc của người này. Vì vậy không có căn cứ để tiến hành xác minh lai lịch của người nam đã bán ma túy cho P.

* Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 (Áp dụng cho bị cáo Đặng Vĩnh P);
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 (Áp dụng cho bị cáo Đỗ Thị Thanh T1):
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình Sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình Sự
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số :326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh:
    1. Tuyên bố bị cáo Đặng Vĩnh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý";
    2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Thanh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Đặng Vĩnh P 07(Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh T1 02 (H1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuỷ". Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hai tội là 03(Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  3. Xử lý vật chứng: 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của "Phòng C - Công an tỉnh B", có chữ ký của Nguyễn Thành T3, Thân Trọng T4, Đoàn Khánh T5 (mỗi người 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: "Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu cong có hình phêu tròn, một đầu thắng và 0,0824 gam mẫu Al còn lại sau giám định".

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2025 tại Chị cục Thi hành án dân sự Thành phố Quy Nhơn).

  1. Án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đặng Vĩnh P, Đỗ Thị Thanh T1 có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Bích L, bà Võ Thị H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh BĐ;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh BĐ;
  • - CQTHAHS CA tỉnh BĐ;
  • - Phân trại tạm giam kv QN-
  • Trại TG CA tỉnh BĐ
  • - Bị cáo;Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thân Trọng Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HSST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 118/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐẶNG VĨNH P, ĐỖ THỊ THANH T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger