TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. ————————— |
Bản án số: 118/2025/HSST
Ngày: 09/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long
Thẩm phán: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Bà Mai Thị Viện Ông Trần Viết Ty
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với:
* Bị cáo:
Đỗ Thanh B; Giới tính: Nam;
Sinh năm: 1976, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số nhà B Q, P.Đông Vệ, TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở: 02 Nguyễn Tạo, phường Trường Thi, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: Thạc sỹ; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông: Đỗ Hữu B1, sinh năm: 1938; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1944;
Vợ: Trịnh Thị Trang N, sinh năm: 1980;
Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2015
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 đến nay, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. ( có mặt)
+ Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thanh B;
2
- Luật sư Hoàng Thị Bích Á, Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư tỉnh T
Địa chỉ: G T, P. Đ, TP T ( có mặt)
2. Bị Hại
- Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992 ( vắng mặt)
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1980
- Anh Trương Đình H1,sinh năm 1974
- Ông Yên Văn D sinh năm 1966
- Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1953
- Anh Văn Doãn T1, sinh năm 1971
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969
- Ông Nguyễn Văn Hội S năm1963
- Ông Nguyễn Đăng T2, Sinh năm 1968
Địa chỉ: Số nhà C đường N, phường Đ, thành phố T
Địa chỉ: Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, Quảng Ninh, Q, Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: phố G, phường Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: D Q, phường Đ, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: A N, phố B, thị trấn T, huyện T, Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn A, xã H, H, Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
3. Người làm chứng
- Ông Nguyễn Trọng Q; sinh năm 1961
- Chị Chu Thị T3, sinh năm 1993
- Anh Nguyễn Quang L1 sinh năm 1977
- Anh Đào Đức T4, sinh năm 1974
- Anh Phạm Văn M, sinh năm 1977
- Bà Nguyễn Thị T5 sinh năm 1963
- Chị Yên Thị N1; sinh năm 1993
- Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1982
- Chị Lê Thị L2, sinh năm 1961
Địa chỉ: 0 đường N, phường Đ, thành phố T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn C, xã Q, thành phố T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa( vắng mặt)
Địa chỉ: D H, phường Q, thành phố T ( vắng mặt)
Địa chỉ: E T, phường Đ, thành phố T ( vắng mặt)
Địa chỉ: 1 T, phường Đ, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: 2 T, phường Đ, TP T( vắng mặt)
Địa chỉ số nhà A N, Phường Q TP T ( có mặt)
3
- Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 1991
- Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 1991
- Anh Lâm Văn T7, sinh năm 1970
- Anh Nguyễn Phi Ư, sinh năm 1977
- Bà Đỗ Thị K, sinh năm 1956
- Chị Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992
- Anh Lê Văn L3, sinh năm 1976
- Anh Hoàng Văn H3, sinh năm 1974
- Bà Lê Thị T8, sinh năm 1967
- Chị Nguyễn Thị T9, sinh năm 1991
- Chị Nguyễn Thị T10, sinh năm 1971
- Anh Nguyễn Đăng V, sinh năm 1991
- Ông Trịnh Duy S1, sinh năm 1947
- Ông Trịnh Quốc V1, sinh năm 1955
- Ông Nguyễn Đình H4, sinh năm 1960
- Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1972
- Ông Lê Hữu S2, sinh năm 1950
Địa chỉ: D Q, phường Đ, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: 1 N, phường Q, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn A, Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: lô C, mặt bằng A phố D, phường Q, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn G, Q, Q, Thanh Hóa ( có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà I phố B, khu I, thị trấn T, huyện T, Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: A N, phường N, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, Thanh Hóa ( có mặt)
Địa chỉ: thôn F, xã H, huyện H, Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ( có mặt)
Địa chỉ: Số nhà I, phố Đ, phường Đ, TP T ( có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà C đường N, phường Đ, thành phố T ( vắng mặt)
Địa chỉ: P, phường Q, TP T ( vắng mặt)
Địa chỉ: thôn A xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2014 đến năm 2016, Đỗ Thanh B là giảng viên Trường cao đẳng Y1. Do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên B tự giới thiệu, đưa ra các thông tin gian dối là B có quen biết với một số người giữ vị trí lãnh đạo ở các sở, ban ngành
4
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nên có khả năng nhờ những người đó xin được vào làm việc ở một số cơ quan nhà nước như Bệnh viện U, Bệnh viện mắt tỉnh Thanh Hóa, Bệnh viện U, Bệnh viện U, Bệnh viện U, Trường cao đẳng Y1 ... Tin là B có khả năng xin được việc làm, có 09 người đã trực tiếp gặp B hoặc thông qua người khác để đặt vấn đề nhờ B xin việc cho bản thân, con, em của họ; gồm: (01) Ông Trương Đình H1, sinh năm 1974, ở thôn N, xã Q, huyện Q; (02) Bà Lê Thị H, sinh năm 1980, ở phố Đ, P.Đông Thịnh, TP .; (03) Ông Yên Văn D, sinh năm 1966, ở P, P.Q, TP .; (04) Ông Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1968, ở thôn B T, xã H, huyện H; (05) Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1953, ở D Q, P.Đông Vệ, TP .; (06) Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1963, ở thôn A, xã H, huyện H; (07) Ông Nguyễn Văn H2, ở A N, phố B, thị trấn T, huyện T; (08) Ông Văn Doãn T1, sinh năm 1971, ở thôn A, xã Q, huyện Q; (09) Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992, ở 0 N, P.Ð, TP .. Qua trao đổi, B đồng ý xin việc với điều kiện phải đưa trước cho B 01 bộ hồ sơ xin việc và một khoản tiền để chi phí xin việc. B hẹn đến một thời gian cụ thể sẽ xin được việc, khi xin được việc sẽ phải đưa hết số tiền còn lại như đã thỏa thuận. Khi nhận tiền, B không viết giấy nhận tiền xin việc mà viết giấy với nội dung vay tiền vì sợ ảnh hưởng đến công việc của B đang làm tại Trường cao đẳng Y1. B cam kết nếu không xin được việc sẽ trả lại tiền, thời hạn B cam kết trả lại tiền trong giấy biên nhận chính là thời hạn cuối cùng để xin được việc. Sau đó, B viết lại giấy cho một số người có nội dung là nhận tiền để xin việc. Đến hẹn B không xin được việc nên các cá nhân nói trên yêu cầu trả lại tiền, B hứa đến tháng 12/2016 sẽ trả lại tiền nhưng từ ngày 01/12/2016, B nghỉ làm việc tại Trường cao đẳng Y1, bỏ trốn khỏi địa phương, cắt đứt liên lạc với các cá nhân đã đưa tiền cho B xin việc; B không thỏa thuận và cũng không trả lại tiền cho các bị hại. Đến ngày 20/3/2017, hiệu trưởng Tường cao đẳng y T14 có Quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc đối với B.
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định, trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016, B đã nhận 1.870.000.000đ để hứa xin việc cho 09 bị hại, cụ thể như sau:
(1). Trường hợp ông Trương Đình H1, sinh năm 1974, ở thôn N, xã Q, huyện Q:
Anh Nguyễn Mạnh H6, sinh năm 1990, ở 1 T, P. Đ, TP . tốt nghiệp Trường đại học tài chính ngân hàng tỉnh N nhưng chưa có việc làm. Anh H6 là cháu của bạn ông H1 nên ông H1 liên hệ nhờ B xin việc cho anh H6. Ngày 27/10/2015, B nhận của ông H1 200.000.000đ để xin cho anh H6 vào làm ở phòng kế toán Bệnh viện ung Bướu tỉnh U (thời điểm đó B nói là Bệnh viện này chuẩn bị thành lập). B hứa đến tháng 12/2015, H6 sẽ nhận quyết định đi làm. Đến ngày hẹn, ông H1 hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho anh H6 với các lý do khác nhau. Đến khoảng tháng 8/2016, B tiếp tục viết cho ông H1 một giấy khác có nội dung là nhận của
5
ông H1 số tiền 200.000.000đ để xin việc, cam kết xin được việc trước ngày 10/10/2016. Đến tháng 11/2016, B vẫn không xin được việc cho H6 nên ông H1 nộp đơn đến Công an T để tố giác B. Ngày 13/12/2016, B viết lại giấy có nội dung nhận tiền xin việc và cam đoan trong khoảng thời gian từ ngày 13/12/2016 đến ngày 27/12/2016 sẽ trả lại tiền cho ông H1 nhưng sau đó B chỉ trả lại 20.000.000₫ rồi bỏ trốn.
(2). Trường hợp bà Lê Thị H, sinh năm 1980, ở phố Đ, P.Đông Thịnh, TP .: Trong quá trình theo học tại Trường cao đẳng Y1 thì bà H quen biết B. Bà H có em ruột là anh Lê Hữu T11, sinh năm 1983, ở xã B, huyện T tốt nghiệp Trường T15 năm 2012 nhưng chưa xin được việc làm. Ngày 15/11/2014, B nhận của vợ chồng bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang L1 số tiền 100.000.000đ để xin cho anh T11 vào làm việc tại một trong các Trạm y tế xã thuộc huyện T, hẹn trong năm 2015 sẽ xin được việc. Đến ngày hẹn, bà H hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho anh T11 với các lý do khác nhau. Đến tháng 5/2016, B không xin được việc làm cho anh T11 nên gợi ý bà H đưa thêm tiền để xin cho anh T11 vào làm việc tại Bệnh viện ung bứu tỉnh U chuẩn bị thành lập thì bà H đồng ý. Ngày 01/6/2016, bà H và bố là ông Lê Hữu S2 đến nhà đưa thêm cho B 50.000.000đ, tổng là 150.000.000đ. B cam kết đến ngày 30/6/2016 sẽ xin được việc cho anh T11 nếu không sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của gia đình bà H. B không xin được việc làm cho anh T11, cũng không trả lại tiền.
(3). Trường hợp ông Yên Văn D, sinh năm 1966, ở P, P.Q, TP .: Thông qua anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1982, ở P.Q, TP . (làm cùng Trường cao đẳng Y1 với B) thì vợ chồng ông Yên Văn D và bà Nguyễn Thị N2 quen biết B. Con gái ông D, bà N2 là chị Yên Thị N1, sinh năm 1993, tốt nghiệp trường Cao đẳng Y1 nhưng chưa xin được việc làm. Ngày 26/4/2014, anh T6 đưa vợ chồng ông D và bà N2 đến nhà B để nhờ xin việc cho chị N1. B nhận của vợ chồng ông D, bà N2 số tiền 200.000.000đ để xin cho chị N1 vào làm tại Bệnh viện U. B viết giấy có nội dung vay số tiền 200.000.000đ và cam kết xin được việc trước ngày 25/6/2014. Do không xin được việc nên ngày 04/11/2016 B viết lại giấy có nội dung: Nhận của ông D 200.000.000đ vào ngày 26/4/2014 để xin việc làm cho con ông D nhưng không xin được và hứa trả lại số tiền trên làm 03 đợt. B chưa trả lại tiền cho ông D được khoản tiền nào và bỏ trốn khỏi địa phương.
(4). Trường hợp ông Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1968, ở thôn B T, xã H, huyện H: Con trai ông T2 là anh Nguyễn Đăng V, sinh năm 1991 tốt nghiệp khoa sư phạm Trường đại học H7 nhưng chưa xin được việc làm. Thông qua sự giới thiệu của ông Trịnh Quốc V1, sinh năm 1955, ở 0 phố Đ, P.Đông Cương, TP . và ông Trịnh Duy S1, sinh năm 1947, ở thôn N, xã H, huyện H thì vợ chồng ông Nguyễn Đăng T2 và bà Nguyễn Thị T10 nhờ B xin việc làm cho anh V. Ngày 26/4/2016,
6
vợ chồng ông T2, bà T10 đến nhà đưa cho B số tiền 300.000.000đ để xin cho anh V vào làm việc tại Trường cao đẳng Y1. Sự việc có ông Trịnh Quốc V1 và ông Trịnh Duy S1 có mặt chứng kiến. B viết giấy có nội dung vay số tiền 300.000.000₫ và cam kết xin được việc trước ngày 24/8/2016. Đến ngày hẹn, ông T2 hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho anh V với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho anh V và cũng không trả lại tiền cho gia đình ông T2.
(5). Trường hợp ông Lê Đình Đ, sinh năm 1953, ở D Q, P.Đông Vệ, TP .: Con gái ông Đ là chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 1991, tốt nghiệp khoa kế toán Trường đại học K1 và công nghệ nhưng chưa xin được việc làm. B nhận của vợ chồng ông Lê Đình Đ và bà Lê Thị L2 số tiền 200.000.000đ để xin cho chị Y vào làm tại bộ phận kế toán Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tỉnh Thanh Hóa; gồm: Ngày 27/4/2015 nhận 150.000.000đ và ngày 25/5/2015 nhận 50.000.000đ. B viết giấy có nội dung vay số tiền 200.000.000đ và cam kết xin được việc trước ngày 27/6/2015. Đến ngày hẹn, ông Đ hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho chị Y với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho chị Y và cũng không trả lại tiền cho gia đình ông Đ.
(6). Trường hợp ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1963, ở thôn A, H, huyện H: Con gái ông H5 là chị Nguyễn Thị T9, sinh năm 1991, tốt nghiệp Trường cao đẳng Y1 nhưng chưa xin được việc làm. Thông qua sự giới thiệu của ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1974, cán bộ y tế xã H, huyện H thì ông H5 nhờ B xin việc làm cho chị T9. Ngày 03/02/2016, ông H5 đi cùng ông H3 và bà Lê Thị T8, sinh năm 1967, cán bộ Trạm y tế xã H, huyện H (là chị ruột của vợ ông H5) đến nhà B. B nhận của ông H5 số tiền 220.000.000đ để xin cho chị T9 là vào làm tại Bệnh viện U hoặc Bệnh viện U. B viết giấy có nội dung vay số tiền 220.000.000₫ và cam kết trong khoảng thời gian 01 tháng nếu không xin được việc sẽ trả lại tiền đã nhận. Đến ngày hẹn, ông H5 hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho chị T9 với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho chị T9 và cũng không trả lại tiền cho ông H5.
(7). Ông Nguyễn Văn H2, ở A N, phố B, thị trấn T, huyện T: Con trai ông H2 là anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992, tốt nghiệp Trường T16 nhưng chưa xin được việc làm. Thông qua sự giới thiệu của ông Lê Văn L3, sinh năm 1976, cán bộ y tế Trung đoàn 3, Sư đoàn C1, Quân khu I có trụ sở tại huyện T thì ông H2 nhờ B xin việc làm cho anh Đ1. Ngày 31/12/2014, B nhận của ông H2 số tiền 200.000.000đ để xin cho anh Đ1 vào làm việc tại Bệnh viện U. B viết giấy có nội dung vay số tiền 200.000.000đ và cam kết đến trước ngày 20/02/2015 sẽ xin được việc cho anh Đ1, nếu không xin được việc sẽ trả lại tiền đã nhận. Đến ngày hẹn, ông H2 hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho anh Đ1 với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho anh Đ1 và cũng không trả lại tiền cho ông H2.
7
(8). Ông Văn Doãn T1, sinh năm 1971, ở thôn A, xã Q, huyện Q: Con gái ông T1 là chị Văn Thị T12, sinh năm 1992, tốt nghiệp Trường cao đẳng Y2 nhưng chưa xin được việc làm. Thông qua sự giới thiệu của ông Lâm Văn T7, sinh năm 1970, ở thôn A, xã Q, TP . và ông Lê Đình D1, sinh năm 1946, ở thôn G, xã Q, huyện Q thì vợ chồng ông T1 nhờ B xin việc cho T12. Ngày 05/10/2015, ông Lâm Văn T7 đưa vợ chồng ông Văn Doãn T1 và bà Lê Thị T8 đến nhà ông D1 để gặp B. Qua trao đổi, B nhận xin cho chị T12 vào làm việc tại Bệnh viện ung bứu tỉnh U chuẩn bị thành lập hết chi phí 280.000.000đ, phải đưa trước số tiền 200.000.000đ. Ngày 19/10/2015, vợ chồng ông T1, bà T8 tiếp tục đến nhà ông D1 đưa cho B số tiền 200.000.000đ như đã thỏa thuận để xin việc cho chị T12. B nhận tiền, viết giấy có nội dung vay số tiền 200.000.000đ và cam kết đến trước ngày 19/12/2015 sẽ xin được việc cho chị T12, nếu không xin được việc sẽ trả lại tiền đã nhận. Đến thời gian hẹn, ông T1 hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho chị T12 với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho chị T12 và cũng không trả lại tiền cho vợ chồng ông T1, bà T8.
(9). Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992, ở 0 N, P.Đông Hương, TP .; Chị Nguyễn Thị Thùy T tốt nghiệp Trường cao đẳng Y1 năm 2014 nhưng chưa xin được việc làm. Thông qua sự giới thiệu của chị Chu Thị T3, sinh năm 1993, ở xã Q, TP . là bạn học cùng lớp tại Trường cao đẳng Y1 thì chị T liên hệ nhờ B xin việc cho chị T. Ngày 30/11/2015, chị T và cậu là ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1961, ở P.Đ, TP . đến nhà đưa cho B số tiền 150.000.000đ để nhờ B xin cho chị T vào làm tại Bệnh viện U bứu tỉnh Thanh Hóa chuẩn bị thành lập. B viết giấy có nội dung vay số tiền 150.000.000đ và cam kết đến tháng 12/2015 sẽ xin được việc cho chị T, nếu không xin được việc sẽ trả lại tiền đã nhận. Đến ngày hẹn, chị T hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc cho chị T với các lý do khác nhau. Đến tháng 6/2016, B không xin được việc làm cho chị T nên gợi ý chị T và bố của chị T là ông Nguyễn Đình H4 đưa thêm tiền để xin cho chị T vào làm việc tại Bệnh viện U, đến tháng 8/2016 có quyết định đi làm thì hai bố con chị T đồng ý. Ngày 17/6/2016, chị T và cậu là ông Nguyễn Trọng Qđến nhà đưa thêm cho B số tiền 50.000.000đ, tổng là 200.000.000đ. B tiếp tục viết giấy có nội dung vay 50.000.000đ và hẹn đến tháng 8/2016 chị T có quyết định đi làm. Đến thời gian hẹn, chị T hỏi thì B khất lần thời hạn xin được việc với các lý do khác nhau. B không xin được việc làm cho chị T và cũng không trả lại số tiền đã nhận.
(các bút lục: 01-28;139-159; 165-181; 183-277; 230-377417, 418; 464-502).
* Kết quả giám định chữ ký, chữ viết:
Ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T có Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong giấy nhận tiền Đỗ Thanh B.
Tại Bản Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh T (BL: 111), kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Thanh B ở
8
các mẫu cần giám định (kí hiệu từ A1 đến A7) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Thanh B ở các mẫu so sánh (kí hiệu M1, M3, M4) do cùng một người ký và viết ra.
*Về dân sự:
Đỗ Thanh B đã tác động gia đình nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 965.000.000₫ để khắc phục hậu quả cho 09 bị hại và đề nghị trả cho các bị hại như sau: Trả cho ông Yên Văn D số tiền 115.000.000đ; Trả cho ông Văn Doãn T1 số tiền 100.000.000đ; Trả cho bà Lê Thị H số tiền 80.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Văn H2 số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Đăng T2 số tiền 150.000.000đ; Trả cho ông Lê Đình Đ số tiền 100.000.000đ; Trả cho chị Nguyễn Thị Thùy T số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Trương Đình H1 số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Văn H5 số tiền 120.000.000đ. Tất cả 09 bị hại đã nhận số tiền Đỗ Thanh B đề nghị khắc phục; số tiền 905.000.000đ còn lại B đã nhận để xin việc chưa trả thì cả 09 bị hại cho B số tiền này, không có yêu cầu đề nghị gì khác (các bút lục 420-447).
Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKS-P2 ngày 28 tháng 4 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh B có lý lịch nêu trên về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định điểm a Khoản 4 Điều 139 BLHS 1999.
Quan điểm của đại diện viện kiểm sát:
Tại phiên Tòa Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quan điểm truy tố đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh B có lý lịch nêu trên về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 139 BLHS 1999.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999; các điểm b, s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 BLHS.
Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh B phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Đỗ Thanh B từ 07 đến 08 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị HĐXX căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Về án phí:
Đề nghị giải quyết theo quy của pháp luật.
* Luật sư Hoàng Thị Bích Á bào chữa cho bị cáo Đỗ Thanh B có quan điểm bào chữa:
- Luật sư không tranh luận với đại diện VKS về tội danh và áp dụng pháp luật đối với bị cáo Đỗ Thanh B.
Luật sư chỉ phân tích các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng như:+ Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo.
+ Bị cáo tác động tích cực đến gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại.
9
+ Bị cáo có nhiều thành tích trong công tác được tặng thưởng bằng khen.
+ Bị cáo có bố mẹ và ông nội bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương.
+ Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
+ Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.
Là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS.
Luật sư đề nghị HĐXX xem xét bị cáo có đủ điều kiện để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt được áp dụng.
Bị cáo Đỗ Thanh B không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh T, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Tại phiên tòa bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến kiếu nại gì. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh B khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng viện kiểm sát khởi tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, về lời khai của các bị hại, những người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng của vụ án đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016 do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên B tự giới thiệu, đưa ra các thông tin gian dối là B có quen biết với một số người giữ vị trí lãnh đạo ở các sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nên có khả năng nhờ những người đó xin được vào làm việc ở một số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tin tưởng vào lời giới thiệu của B, có 09 bị hại đã đưa cho B với tổng số tiền là 1.870.000.000đ để nhờ B xin việc cho bản thân, con, em của họ là các ông bà:
- - Ông Trương Đình H1, sinh năm 1974, ở thôn N, xã Q, huyện Q; số tiền 200.000.000₫
- - Bà Lê Thị H, sinh năm 1980, ở phố Đ, P.Đông Thịnh, TP .; số tiền 150.000.000₫
- - Ông Yên Văn D, sinh năm 1966, ở P, P. Q, TP .; số tiền 200.000.000₫
- - Ông Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1968, ở thôn B T, xã H, huyện H; số tiền 300.000.000₫
- - Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1953, ở D Q, P.Đông Vệ, TP .; số tiền 200.000.000₫
10
- - Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1963, ở thôn A, xã H, huyện H; số tiền 220.000.000₫
- - Ông Nguyễn Văn H2, ở A N, phố B, thị trấn T, huyện T; số tiền 200.000.000₫
- - Ông Văn Doãn T1, sinh năm 1971, ở thôn A, xã Q, huyện Q; số tiền 200.000.000₫
- - Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992, ở 0 N, P.Đông Hương, TP .. Số tiền 150.000.000₫
Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thanh B thực hiện trước 0 giờ 50 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018. Có đủ cơ sở khẳng định bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do điều 174 BLHS năm 2015 và các điều 139 BLHS năm 1999 là như nhau về hình phạt, Điều 174 BLHS năm 2015 quy định thêm về một số tình tiết tăng nặng mới. Căn cứ vào Điểm C Điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được quốc hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017.
Trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 để giải quyết.
Do đó, Cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Thanh B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS năm 1999 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3]. Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thanh B là nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, hành vi đó cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
4.1. Về các tình tiết giảm nhẹ:
- - Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thành khẩn khai báo.
- - Bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho 09 bị hại với số tiền 965.000.000 đồng, số tiền còn lại cả 09 bị hại đều cho B, không yêu cầu B trả nữa, đồng thời các bị hại cũng đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo;
- - Bị cáo có các thành tích xuất sắc trong công tác được tỉnh đoàn Thanh Niên Sở Giáo dục và Đào T13. Hội chữ thập đỏ tỉnh Thanh Hóa tặng “Bằng khen".
- - Bị cáo đã chủ động đầu thú; bị cáo có thời gian phục vụ trong Q1; có bố và mẹ đẻ và ông được nhà nước tặng thưởng Huân Huy C. Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Do đó, bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
4.2 Các tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Đỗ Thanh B phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52;
11
Về Nhân Thân Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào.
[5] Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999. Căn nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng đối với bị cáo Đỗ Thanh B.
Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nằm trong khung hình phạt nhẹ hơn.
[6] Về trách nhiệm dân sự
Đỗ Thanh B đã tác động gia đình nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 965.000.000₫ để khắc phục hậu quả cho 09 bị hại và đề nghị trả cho các bị hại như sau: Trả cho ông Yên Văn D số tiền 115.000.000đ; Trả cho ông Văn Doãn T1 số tiền 100.000.000đ; Trả cho bà Lê Thị H số tiền 80.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Văn H2 số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Đăng T2 số tiền 150.000.000đ; Trả cho ông Lê Đình Đ số tiền 100.000.000đ; Trả cho chị Nguyễn Thị Thùy T số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Trương Đình H1 số tiền 100.000.000đ; Trả cho ông Nguyễn Văn H5 số tiền 120.000.000đ. Tất cả 09 bị hại đã nhận số tiền Đỗ Thanh B đề nghị khắc phục; số tiền 905.000.000đ còn lại B đã nhận để xin việc chưa trả thì cả 09 bị hại cho B số tiền này, không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Xét thấy: Các bị hại không yêu cầu bị cáo Đỗ Thanh B bồi thường tiếp số tiền 905.000.000đ là từ nguyện nên HĐXX ghi nhận bị cáo Đỗ Thanh B đã thực hiện bồi thường xong về dân sự.
[7] Về án phí: Bị cáo đỗ Thanh Bình phải chịu Án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999; các điểm b, s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 BLHS.
Tuyên bố: bị cáo Đỗ Thanh B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: bị cáo Đỗ Thanh B 07 ( B2) năm Tù
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/9/2024
- Về trách nhiệm dân sự : Ghi nhận bị cáo Đỗ Thanh B đã bồi thường xong về mặt dân sự cho các bị hại.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBNTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH khoá XIV quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Thanh B phải nộp 200.000đ án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; vắng mặt các bị hại.
12
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam - CA tỉnh Thanh Hóa; - Cục THA Dân sự tỉnh Thanh Hóa. - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Long |
Bản án số 118/2025/HSST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 118/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
