|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H Bản án số: 118/2025/HS-ST Ngày: 13/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Q
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S, ông Đoàn Văn M.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương L - Thư ký Tòa án nhân dân quận N thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐ-HPT ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Đinh Công T, sinh ngày 27/3/1990; tại H; nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã H (nay là xã H) huyện C, thành phố H; Nơi ở hiện tại: P, tòa HH03E, khu đô thị T, C, huyện T, thành phố H; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đinh Văn T1, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/5/2012, Công an huyện C, H ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau (đã nộp phạt).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Cao Thị Thu H1, sinh năm 1991; Trú tại: P chung cư G, tổ A, phường M, quận N, thành phố H Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Công T quen biết chị Cao Thị Hoài T3 từ năm 2021 khi T làm nhân viên Trung tâm T5 thuộc ngân hàng V và đã từng giúp chị T3 thủ tục mở khoản vay tín dụng tại ngân hàng V. Đến ngày 22/11/2021, T nghỉ việc và không còn làm nhân viên của ngân hàng V nữa.
Đầu năm 2024, chị T3 có 3 thẻ tín dụng số 4198 3499 0459 5191 tại ngân hàng V, số E 8730 0063 0182 tại ngân hàng V1 và số 4220 7575 0076 6838 tại ngân hàng T6 đã tiêu hết hạn mức thẻ. Do có nhu cầu vay mới khoản vay 120.000.000 đồng trong vòng 05 năm nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, chị T3 nhắn tin qua zalo hỏi T “anh còn làm tín dụng không”. Lúc này, do T đang cần tiền trả nợ và chi tiêu nên T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T3 nên T nhắn lại “còn em, em cần vay hay làm thẻ” và gửi qua zalo cho Thu hình Ả căn cước công dân và thẻ nhân viên của mình khi còn làm tại Trung tâm T5 thuộc ngân hàng V để chị T3 tin tưởng là T vẫn đang làm việc tại ngân hàng. Sau đó, T yêu cầu chị T3 gửi thông tin cá nhân để kiểm tra xem có mở khoản vay tiếp được không. Sau khi chị T3 gửi ảnh căn cước công dân cho T và số thẻ tín dụng của chị T3, T đã dùng điện thoại cá nhân của mình truy cập vào app CIC của Trung tâm T7 để kiểm tra nợ xấu các thẻ tín dụng của chị T3. Sau khi tra cứu thông tin, T nói với chị T3: “giờ em phải thanh toán hết các khoản thẻ tín dụng thì mới vay được khoản mới” và hướng dẫn chị T3 chuyển tiền vào tài khoản của T để T hỗ trợ chị T3 xóa khoản nợ tín dụng trên CIC và mở 1 tài khoản tiết kiệm làm đảm bảo. Chị T3 tin tưởng T vẫn đang làm việc trong ngân hàng V, có khả năng lo việc được cho mình nên cùng ngày 11/01/2024, tại phường M, quận N, H, chị T3 đã chuyển khoản 20.000.000 đồng từ số tài khoản 0491000123487 tại ngân hàng V2 của chị T3 đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T để thanh toán thẻ tín dụng số 4198 3499 0459 5191 của chị T3 tại ngân hàng V.
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 12/01/2024, T đến sảnh tòa nhà chung cư G, phường M, N, H gặp chị T3 để cho chị T3 ký hồ sơ xin cấp tín dụng của ngân hàng V (biểu mẫu hồ sơ do T tự lấy trên mạng Internet). Do biết chị T3 có thẻ tín dụng tại ngân hàng T6 đã tiêu hết hạn mức 40.000.0000 đồng, T tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền nên đã nhắn tin cho chị T3 nội dung “em có xử lý được tiền để anh đẩy vào thẻ Tech cho em xong anh xử lý cái CIC khoảng 2 tiếng xong lại rút tiền đấy về là xong, mai giải ngân sáng là xong em ạ, dư nợ cao đẩy lên không xử lý nó cancel mất công” mục đích để chị T3 chuyển 40.000.000 đồng để thanh toán nợ trong thẻ tín dụng T6. Chị T3 sau đó đã chuyển khoản cho T số tiền 40.000.000 đồng từ tài khoản số 19028194161029 tại ngân hàng T6 đến số tài khoản nêu trên của T để T thanh toán nợ trong thẻ cho chị T3.
Sáng ngày 13/01/2024, T biết tài khoản tín dụng của chị T3 tại ngân hàng V1 sắp tiêu hết hạn mức 30.000.000 đồng nên T tiếp tục đưa ra thông tin gian dối bằng hình thức tự tạo tài khoản zalo với tên “A K Trưởng phòng KHCN” rồi nhắn tin qua lại với tài khoản zalo của T, sau đó T chụp màn hình đoạn tin nhắn rồi gửi qua zalo cho chị T3 và nhắn tin cho chị T3 nội dung “Sếp sáng vừa nhắn cho anh, em xem chuyển khoản anh 30 triệu anh xử lý nốt cái thẻ kia của em cho xong để thứ 2 giải ngân, bảo hiểm khoản vay anh xin xong rồi nhé” để bảo chị T3 chuyển khoản tiền cho T để thanh toán nợ trong thẻ VIB. Do tài khoản tín dụng số 5268 8730 0063 0182 tại ngân hàng V1 có hạn mức 30.000.000 đồng và trong thẻ hiện còn 4.000.000 đồng nên ngày 13/01/2024, chị T3 đã chuyển khoản 26.000.000 đồng cho T (chuyển khoản 02 lần: lần 1 chuyển khoản 16.000.000 đồng từ số tài khoản 239260397 tại ngân hàng V; lần 2 chuyển khoản 10.000.000 đồng từ số tài khoản 246912222 tại ngân hàng V1) đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T4 T hứa hẹn đến ngày 15/01/2024 sẽ giải ngân khoản vay cho chị T3.
Ngày 14/01/2024, T tiếp tục đưa ra thông tin gian dối và gọi điện zalo cho chị T3 nói “giờ em phải chuyển cho anh 6.000.000đ là tiền bảo hiểm khoản vay mới, sau đó anh sẽ xin miễn số tiền này cho em”. T giục chị T3 chuyển khoản và nói dối nếu không chuyển khoản sẽ ảnh hưởng đến phê duyệt khoản vay mới của chị T3. Do tin tưởng T và lo lắng không giải ngân được khoản vay nên chị T3 đã chuyển khoản cho T số tiền 6.000.000 đồng từ số tài khoản 0491000123487 tại ngân hàng V2 đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T4
Ngày 15/01/2024, T tiếp tục đưa ra thông tin gian dối và gọi điện bảo chị T3: “do khoản vay cũ bên V của em tháng nào e cũng trả chậm 1-2 ngày nên cần mở một sổ tiết kiệm 30 triệu để đảm bảo cho khoản vay mới”. Do chị T3 nói hiện không có tiền nên T bảo “anh cho em vay 15 triệu đồng, em chỉ chuyển cho anh 15 triệu đồng thôi”, chị T3 đồng ý và chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng từ số tài khoản 19028194161029 của chị T3 tại ngân hàng T6 đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T4
Ngày 16/01/2024, T nói dối chị T3 cần phải đưa cho T số tiền 2.200.000 đồng để cảm ơn các bộ phận tại ngân hàng. Do tin tưởng, chị T3 đã chuyển khoản số tiền 2.200.000 đồng từ số tài khoản 0491000123487 của chị T3 tại ngân hàng V2 đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T4
Ngày 17/01/2024, T gọi điện yêu cầu chị T3 trả cho T số tiền 15.000.000 đồng mà T đã ứng ra cho chị T3 vay ngày 15/01/2024 để mở khoản tiết kiệm đảm bảo cho khoản vay mới mặc dù T không chuyển. Sau đó, chị T3 đã chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng từ số tài khoản 0491000123487 tại ngân hàng V2 đến số tài khoản 19028047962016 tại ngân hàng T6 của T4
Tổng cộng, từ ngày 11/01/2024 đến ngày 17/01/2024, chị T3 đã chuyển khoản cho T số tiền 124.200.000 đồng để xử lý các thủ tục mở khoản vay mới.
Sau khi chiếm đoạt được tiền, T không thực hiện thủ tục mở khoản vay như đã hứa hẹn với chị T3 mà sử dụng số tiền trên để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Do đến hẹn, chị T3 không thấy T mở được khoản vay cho mình và do nghi ngờ T đã lừa chiếm đoạt tài sản nên chị T3 đã liên hệ với T để đòi lại tiền và nói sẽ trình báo cơ quan công an nên sau đó T đã chuyển khoản trả lại T3 45.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 23/01/2024, T trả 20.000.000 đồng; ngày 26/01/2024, T chuyển khoản 5.000.000 đồng vào tài khoản của bạn chị T3 là Lê Trúc A (Sinh năm: 1992, HKTT: 59/36 X, A, N, Cần Thơ) - do chị T3 cung cấp để trả nợ cho chị T3; Ngày 31/01/2024, T trả 10.000.000 đồng và ngày 05/3/2024, T trả 10.000.000 đồng. Sau đó T khất lần và không trả tiếp tiền cho chị T3 nên ngày 19/3/2024, chị T3 đã gửi đơn tố giác đến Công an quận N. Quá trình giải quyết đơn tố giác, đến ngày 09/4/2024, T đã khắc phục trả lại cho chị T3 số tiền 79.200.000 đồng còn lại.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại ngân hàng V, xác định: Đinh Công T làm việc tại Phòng bán hàng trực tiếp miền B, Trung tâm T5 thuộc ngân hàng V (địa chỉ tại số I D, D, Cầu G, H) từ tháng 05/03/2021 đến tháng 23/11/2021 thì nghỉ việc. Thời điểm tháng 01/2024 (thời điểm T nhận tiền của T3), T không còn làm việc tại ngân hàng V; Tiến hành xác minh tại Trung tâm T5, thuộc ngân hàng V, xác định: không có ai tên là K - trưởng phòng khách hàng cá nhân giúp Đinh Công T làm thủ tục khoản vay cho chị T3.
Về dân sự: Đinh Công T đã khắc phục trả lại số tiền 124.200.000 đồng đã chiếm đoạt cho chị T3. Chị T3 không có yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T4
Tại cơ quan điều tra, Đinh Công T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của Đinh Công T phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, kết quả sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu điều tra khác.
Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSNTL, ngày 16/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận N đã truy tố Đinh Công T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Công T từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 đến 60 tháng; không phạt bổ sung đối với bị cáo; về tang vật, dân sự: không. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố H; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng được thu giữ, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Đinh Công T mặc dù không còn làm việc tại Trung tâm T5 thuộc ngân hàng V3 nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 11/01/2024 đến ngày 17/01/2024, tại phường M, quận N, thành phố H, T đã đưa ra thông tin gian dối là nhân viên của Trung tâm tín chấp miền B và có khả năng mở thẻ tín dụng khiến chị Cao Thị Hoài T3 tin tưởng và chuyển khoản nhiều lần với tổng số tiền 124.200.000 đồng cho Đinh Công T để nhờ Đinh Công T mở khoản vay tín dụng cho chị T3. Sau khi nhận được số tiền chị T3 chuyển khoản T đã chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Chỉ vì cần tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối, khiến chị T3 tin tưởng T có khả năng mở thẻ tín dụng nên đã nhiều lần chuyển tiền cho T theo yêu cầu của T rồi chiếm đoạt tài sản của chị T3. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội; gây hoang mang lo sợ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại đã nhận được tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không thuộc nhóm hành vi chiếm đoạt tài sản và thời gian vi phạm đã lâu, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần cải tạo ngoài xã hội cũng đủ khả năng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1,khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Công T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
3. Xử phạt: Bị cáo Đinh Công T 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đinh Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
4. Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Q |
Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 118/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật Hình sự.
