|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 118/2025/HS-ST Ngày: 12-11-2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Bà Phạm Minh Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Văn S), sinh năm 1982, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi đăng ký thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 06/4/2000, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/HS-ST; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 17/8/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ra quyết định số 1896/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 18 tháng về hành vi say rượu, đánh người gây mất trật tự công cộng; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thu T, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1976, địa chỉ: Nhà T, đường N, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q và chị Huỳnh Thị Mỹ H ở trọ tại phòng trọ số A, nhà T, cạnh đường NA10 thuộc khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương chung sống với nhau như vợ chồng.
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 18/12/2024, Q đang ở phòng trọ số 01 nhà trọ M thì nảy sinh ý định đi đặt bẫy rắn, chuột để giết thịt nấu ăn. Sau đó, Q cầm theo 01 cây kìm và 07 cái bẫy rồi đi bộ đến bãi cỏ ven đường NA7 tìm dấu vết của rắn và chuột để đặt bẫy nhưng không thấy nên không đặt bẫy tại đây. Sau đó, Q thấy người đàn ông (không rõ lai lịch) chạy xe mô tô G trên đường nên kêu lại và thuê chở Q đi đến bãi đất có nhiều cây rậm tại khu phố A, phường C, thành phố B tìm chỗ đặt bẫy rắn, chuột. Khi tài xế xe Grab chở Q đi đến đoạn đường ĐH604 cách Hoa viên nghĩa trang B1 khoảng 500m thuộc khu phố A, phường C, thành phố B thì Q xuống xe trả tiền thuê xe cho tài xế xe G rồi đi bộ theo đường mòn nông thôn khoảng 02km đến bãi đất có nhiều cây cỏ nên vào đặt bẫy. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, Q đặt bẫy xong thì trời tối, Q sử dụng đèn pin đội đầu soi đường đi bộ ra đường ĐH604, khi đi được đoạn khoảng hơn 01km thì Q thấy xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 61G1-557.87 của bà Nguyễn Thu T đang dựng trong vườn cây cao su cách đường ĐH604 khoảng 261m để cạo mủ cao su. Q thấy có nhiều ánh đèn của người dân cạo mủ cao su ở khoảng cách xa nên Q nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô biển số 61G1-557.87 của bà T để sử dụng làm phương tiện đi lại. Sau đó, Q đi bộ lại cạnh xe mô tô biển số 61G1-557.87, lén lút lấy xe 61G1-557.87 dắt đi được một đoạn khoảng 20m rồi dừng lại. Lúc này, Q sử dụng cây kìm cắt dây điện ở gần ổ khoá của xe rồi đạp khởi động máy điều khiển xe mô tô biển số 61G1-557.87 chạy hướng về phòng trọ số 01, nhà trọ Minh X. Khi Q đi đến đoạn đường D thuộc khu phố F, phường T, thành phố B thì bị Tổ tuần tra đặc biệt (Tổ 171) Công an thành phố B kiểm tra hành chính. Lúc này, Q không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe, không chứng minh được nguồn gốc xe, đồng thời xe mô tô biển số 61G1-557.87 không có chìa khoá, dây điện phía sau ổ khoá bị cắt rời, thấy Q có biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra đã mời Q về trụ sở Công an phường T để làm rõ.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thu T không thấy xe mô tô biển số 61G1-557.87 nên đi tìm. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an phường T gọi điện thoại thông báo cho bà Nguyễn Thu T biết đang tạm giữ xe mô tô biển số 61G1-557.87 của bà T. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thu T đến Công an phường T trình báo vụ việc bị mất trộm xe. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, kiểu máy: CPH2481; 01 cây kìm hiệu TOPTUL; 01 đèn pin có chữ T20; 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 61G1-557.87, số máy: C100ME0450119, số khung: C100M0450119.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Q phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, Q và Huỳnh Thị Mỹ H khai: Khoảng cuối tháng 11/2024, bà H nhặt được chiếc điện thoại di động hiệu OPPO màu đen tại bãi cỏ bên lề đường NA7 thuộc khu phố C, phường M, thành phố B. Sau đó, bà H cho Nguyễn Văn Q sử dụng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 167 ngày 27/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 61G1-557.87, số máy: C100ME0450119, số khung: C100M0450119, đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng.
Xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 61G1-557.87, số máy: C100ME0450119, số khung: C100M0450119 là của anh Nguyễn Hoàng T1 (sinh năm 1988, HKTT: Khu phố C, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Năm 2020, anh Nguyễn Hoàng T1 bán xe cho bà Nguyễn Thu T.
Về xử lý vật chứng: Ngày 29/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả: 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 61G1-557.87, số máy: C100ME0450119, số khung: C100M0450119 cho bà Nguyễn Thu T.
Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức hình phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây kim hiệu TOPTUL, 01 (một) đèn pin có chữ T20. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kiểu máy CPH2481 (máy bị rạn nứt màn hình, không kiểm tra được model, số EMEI của máy, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Với hành vi lén lút lấy trộm của bà Nguyễn Thu T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II có trị giá 10.000.000 đồng mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025). Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 30/9/2025 theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý là tình tiết “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, hoàn trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ hành vi, hậu quả cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kiểu máy CPH2481 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây kìm hiệu TOPTUL, 01 (một) đèn pin có chữ T20 do không còn giá trị sử dụng.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sư năm 2015, sửa đổi năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Văn S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Văn S) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kiểu máy CPH2481 (máy bị rạn nứt màn hình, không kiểm tra được model, số EMEI của máy, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kìm hiệu TOPTUL, 01 (một) đèn pin có chữ T20.
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2025 giữa Phòng thi hành án dân sự khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh và Công an Thành phố H).
5. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |
Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 118/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Q phạm tội trộm cắp tài sản
