|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 118/2025/HS-ST Ngày: 09-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Hoàng Thị Cát Phương;
Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (B5) gồm bị cáo: Nguyễn Thị Kim T, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ. Đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim T (tên gọi khác L), sinh năm 1970, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Doãn S (chết) và bà Nguyễn Thị C (chết); Có chồng là Nguyễn Hữu T1, có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2002); Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 tại Bản án số 156/2023/HS-ST ngày 25/7/2023.
Ngày 26/12/2024, bị cáo đã đóng xong tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 00 ngày 29/10/2024, tại quán cà phê “Kiều Oanh” thuộc ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Thị O làm chủ, có O, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Đức L1 cùng rủ nhau đánh bài Liêng tố 03 lá thắng thua bằng tiền. Cả 03 người thống nhất cách đánh 03 lá cộng lại chín nút là thắng, nút nhỏ hơn thì 3 tây sẽ thắng, nếu các quân bài liên tiếp nhau gọi là L2, như 2, 3, 4, hoặc J, Q, K là thắng, ai được L2 sẽ thắng chín nút, nếu L2 lớn sẽ thắng Liêng nhỏ. Đồng thời người tố lớn mà không có người theo thì thắng hết không kể 03 quân bài lớn hay nhỏ và mỗi ván; mỗi người phải đóng tẩy 10.000 đồng, người làm cái được quyền tố trước, sau đó lần lượt đến những người kế tiếp, người tố cao nhất không quá 30.000 đồng trên mỗi lần tố, người nào thắng thì được hưởng hết. Khi tham gia đánh bạc O mang theo số tiền 300.000 đồng, T mang theo số tiền 420.000 đồng và L1 mang theo số tiền 350.000 đồng. Tổng số tiền những người chơi bạc mang theo là 1.070.000 đồng. Lúc 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi O, T và L1 đang tham gia chơi bạc thì bị Công an xã V phát hiện, thu giữ 01 bộ bài 52 lá và số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng trên chiếu bạc, thu giữ trong người Oanh số tiền 200.000 đồng, L1 200.000 đồng. Nên Công an xã V lập hồ sơ xử lý.
Tang vật thu giữ gồm: 01 bộ bài tây 52 lá và số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng;
Đối với Nguyễn Thị O và Nguyễn Đức L1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc...”, khi tham gia đánh bạc số tiền chưa đủ 5.000.000 đồng, nên Công an xã V đã ra quyết định xử lý hành chính về hành vi “đánh bạc” là đúng quy định.
Tại Cáo trạng số 142/CT-VKSNT, ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố Bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 16 (mười sáu) tháng đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với 01 bộ bài tây 52 lá; Đề nghị sung quỹ Nhà nước số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Lúc 16 ngày 29/10/2024 tại quán cà phê “Kiều Oanh” thuộc ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Kim T (đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích) tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị O và Nguyễn Đức L1 bằng hình thức sử dụng bài Tây 52 lá đánh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền, thì bị phát hiện quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng. Do đó, bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Đánh bạc là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên bị pháp luật nghiêm cấm, bị cáo biết rõ nhưng vì muốn tư lợi và nhằm mục đích tước đoạt tiền bạc của nhau, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng về an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo cũng đã bị tạm giữ, tạm giam một thời gian nên cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm vì vậy cho bị cáo cải tạo tại địa phương và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm như mức đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là phù hợp. Căn cứ khoản 1 Điều 36 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 91 ngày (từ ngày 09/01/2025 đến ngày 09/04/2025) nên thời gian tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 91 ngày tạm giữ x 3 = 273 ngày cải tạo không giam giữ. Xét bị cáo có mức thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá và sung quỹ Nhà nước số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng.
[7] Về phần luận tội và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ.
[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 16 (mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 91 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/01/2025 đến ngày 09/4/2025) = 273 ngày cải tạo không giam giữ, nên bị cáo Nguyễn Thị Kim T còn phải tiếp tục chấp hành 06 (sáu) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim T. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng; Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá.
- (Đang được tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai theo biên lai thu tiền số 0004553 ngày 18/3/2025; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21 tháng 3 năm 2025).
- - Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 118/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”
