Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HS-PT

Ngày 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phán: Ông Trương Nam Trung

Ông Trần Bá Nguyên

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 125/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thị Mỹ H và Đặng Thị Mỹ H1 do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai.

*Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

  1. Đặng Thị Mỹ H. Sinh ngày 10/02/1986, tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: C N, khu phố T, xã T, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: [...], cấp ngày 16/9/2021; nghề nghiệp: Làm tóc; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Văn H2 và bà Huỳnh Thị T. Bị cáo có chồng là Lê Bản L và có 02 con sinh năm 2016 và sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Đặng Thị Mỹ H1. Sinh ngày 24/12/1997, tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: C N, khu phố T, xã T, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: [...], cấp ngày 28/9/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Văn H2 và bà Huỳnh Thị T. Bị cáo chưa có chồng, con. Tiền án, tiền sự: Không. Được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Trương Lê Thanh H3, sinh năm 2004

Trú tại: Thôn T, xã Q, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trương Lê Thanh H3: Luật sư Võ Hồng N - Công ty L1. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Mộng Y, sinh năm 1981.

Trú tại: Xóm I, thôn H, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ ngày 08/01/2024, bà Lê Thị Mộng Y cùng con gái là Trương Lê Thanh H3 đang dọn hàng chuẩn bị bán tôm trong chợ P1 thuộc Tổ E, khu phố C, phường B, TP ., thì bà Y xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau to tiếng dẫn đến xô xát với bà Đặng Thị Mỹ H4 (Sinh năm: 1984, trú: thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định – là em dâu của bà Y). Tại đây, Y với H4 dùng tay xô xát, nắm tóc, ghì đầu nhau thì được mọi người can ngăn. Sau đó cả hai người trở lại buôn bán bình thường.

Khoảng 8 giờ cùng ngày, Đặng Thị Mỹ H1 (là em gái của bà Đặng Thị Mỹ H4) đang đứng ở gần nhà thì bà Lê Thị Bích H5 (là chị ruột của bà Y và chị chồng của bà H4) điều khiển xe mô tô đi ngang qua nhà nói “Chị H4 mày bị mẹ con, con Y đánh ở chợ P1 đó” rồi tiếp tục điều khiển xe đi đến chợ P1.

Nghe vậy, H1 một mình điều khiển xe mô tô đến chợ P2. Khi đến nơi, H1 gửi xe ở trước cổng chợ, rồi đi bộ vào bên trong, đến vị trí bán hàng của bà Đặng Thị Mỹ H4 và mẹ con bà Y đang ngồi bán hàng ở gần nhau. Tại đây, H1 nói với bà Y “Chị năm chứ sao chị cứ đánh chị bốn em hoài vậy, có gì thì từ từ nói chứ”, rồi giữa Y, H3 với H1 xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau to tiếng. Sau đó, H1 bỏ đi ra cổng chợ, đứng tại đây khoảng 10 phút thì chị ruột của H1 là Đặng Thị Mỹ H cùng với Trần Thị Hoàng P đi đến. Đặng Thị Mỹ H hỏi “Sao đứng đây, mẹ con bà Y đánh chị bốn sao” thì H1 nói “Em thấy con H3 nó có gọi ai đó, thôi đi vô coi thử nếu nó có gọi người tới để đánh chị bốn thì mình vô đánh luôn”. Hòa đồng ý rồi cùng H1 và P đi vào bên trong chợ, Khi vừa vào đến nơi thì nghe bà H4 với mẹ con bà Y cãi nhau nên cả ba đi vòng ra phía sau của bà Y và H6.

Khi vừa đến chỗ bà Y và H3, thì Đặng Thị Mỹ H nói “Sao mẹ con mày đánh chị tao” rồi dùng tay đánh nhiều cái vào người của Trương Lê Thanh H3. Thấy H3 bị đánh nên bà Y nhào đến đánh lại H. Khi đánh nhau thì mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu đen của H đang đội trên đầu bị rơi xuống đất nên H nhặt lên, cầm trên tay trái tiếp tục đánh vào H3 (không rõ đánh bao nhiêu cái, trong đó có trúng vào vùng đầu). Ngay sau đó, H và bà Y nắm tóc, ghì đầu, cùng ngã xuống đất. Trong lúc H với bà Y giằng co thì Trần Thị Hoàng P dùng mũ bảo hiểm cầm trên tay đánh vào người bà Y. Cùng lúc này, Trương Lê Thanh H3 bị đánh, đứng dậy thì H1 dùng tay trái nắm tóc H3 giật ngược ra sau, dùng tay phải tát một cái vào mặt H3, tiếp đến H1 dùng chân phải đạp vào bụng H3 thì bà Phùng Thị H7 đến can ngăn, kéo H1 ra xa, ôm giữ H1 lại, rồi đập bể mũ bảo hiểm của H1 để không ai cầm lên đánh nữa. Sự việc sau đó mọi người can ngăn, Đặng Thị Mỹ H1, Đặng Thị Mỹ H, Trần Thị Hoàng P và Đặng Thị Mỹ H4 cùng ra về.

Hậu quả: Lê Thị Mộng Y bị thương tích sưng bầm vùng mặt nhưng thương tích nhẹ, tự điều trị tại nhà, không yêu cầu gì đối với vụ việc. Đặng Thị Mỹ H4 bị sưng nề gò má trái, vai gáy có 3 vết bầm tím hình dạng caro, kích thước 3x3cm, đến điều trị tại Trung tâm y tế T1, huyện T, Bình Định vào ngày 08/01/2024, ngày 10/01/2024 xuất viện.

Ngày 06/3/2025, Trung tâm Pháp y tỉnh B có Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 36/KLGĐCT-PYBD đối với bà Đặng Thị Mỹ H4 kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 0%.

Trương Lê Thanh H3 bị đau đầu nhiều, đau ran vùng ngực đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B từ ngày 11/01/2024 đến ngày 12/01/2024, ngày 14/01/2024 đến ngày 15/01/2024 và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Ngày 14/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh B có Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 93/24/KLGĐCT-PYBD đối với bà Trương Lê Thanh H3 kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 03%.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai bằng nhựa màu đen, có quai đen, trên đình mũ phía sau bên phải có vết nứt vỡ (không rõ hình dạng); kích thước vết nứt 16x7 cm, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bị vỡ, phần còn lại có kích thước 30x14 cm, bằng nhựa, màu trắng sữa, hình dạng không xác định.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 37/2025/HSST ngày 27-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai đã quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị Mỹ H và Đặng Thị Mỹ H1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.

  3. Kháng cáo của các bị cáo, bị hại

Ngày 04/9/2025 bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 kháng cáo đề nghị tuyên bố hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm.

Ngày 09/9/2025 bị cáo Đặng Thị Mỹ H kháng cáo cho rằng chỉ dùng tay chân đánh bị hại H3, có dùng mũ bảo hiểm quơ lung tung khi xảy ra xô sát và không xác định có trúng H3 hay không, không xác định được thương tích của H3 có phải do bị cáo gây ra hay không, cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng mà bị cáo cho rằng là chiếc mũ bảo hiểm bị cáo sử dụng, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng khi hướng dẫn bị cáo khai nhận hành vi và hướng dẫn cho bị cáo bồi thường thiệt hại nên đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm.

Ngày 10/9/2025 bị hại Trương Lê Thanh H3 đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm p khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự và tăng mức hình phạt đối với 02 bị cáo.

Ngày 16/9/2025 và ngày 27/10/2025 bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 có đơn thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo về mức hình phạt, bị cáo đã nhận thức đầy đủ về hành vi của bị cáo là trái pháp luật, thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo gây ra đề nghị được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và cho bị cáo được hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Thị Mỹ H giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo như đã thay đổi, bổ sung vào các ngày 16/9/2025 và ngày 27/10/2025.
  • Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo H.
  • Do phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới đối với bị cáo H1 nên đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo H1 giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
  • Luật sư Võ Hồng N phát biểu: do sức khỏe của bị hại không đảm bảo để tham gia phiên tòa nên xin xét xử vắng mặt, với tư cách người bảo về quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo của bị hại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại có kháng cáo, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vì lý do sức khỏe không tham gia phiên tòa nên đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa chị Đặng Thị Mỹ H4 với mẹ con chị Lê Thị Mộng Y và Trương Lê Thanh H3, Đặng Thị Mỹ H1 có ý định bênh vực chị ruột của mình (H4) nên đã đến khu vực chợ P1 cãi nhau với chị Y sau đó gọi cho chị mình là Đặng Thị Mỹ H đến với ý định nếu mẹ con chị Y đánh chị H4 thì H và H1 sẽ vào giúp.

Khi đến nơi, thấy chị H4 đang cãi nhau với mẹ con chị Y thì H đã lao vào đánh H3, khi mũ bảo hiểm trên đầu bị cáo rớt xuống thì bị cáo nhặt lại để đánh H3 nhưng không biết trúng vào đâu, chị Y thấy vậy cũng lao vào vật nhau với H. Cùng lúc đó, H1 cũng dùng tay chân đánh vào người H3. Sau đó được mọi người can ngăn thì H1, H và Trần Thị Hoàng P (bạn của H) đi về.

Hậu quả, Trương Lê Thanh H3 bị thương, kết quả giám định tỷ lệ tổn thương phần trăm cơ thể tại thời điểm giám định là 3%. Bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Mỹ H:

Bị cáo cho rằng có dùng tay đánh vào người H3, khi mũ bảo hiểm bị rớt bị cáo nhặt lên quơ lung tung và có nhiều người can ngăn nên không xác định được có trúng vào người H3 hay không, mũ bảo hiểm mà bị cáo sử dụng quơ lúc xô xát không phải là mũ bảo hiểm bị thu giữ. Tuy nhiên, căn cứ lời khai ban đầu của bị cáo, lời khai người làm chứng bà Phùng Thị H7 là người can ngăn giật lấy mũ bảo hiểm trên tay người phụ nữ và đập xuống đất với mục đích vỡ mũ bảo hiểm can ngăn đánh nhau nên lời khai sau khi đánh nhau bị cáo cầm mũ bảo hiểm của bị cáo ra về là không có căn cứ.

Trong các bị cáo H, H1 và chị P đến khu vực buôn bán của mẹ con chị Y thì bị cáo H khai có dùng mũ bảo hiểm quơ lung tung, bị cáo H1 khai nhận chỉ dùng tay chân đánh, chị P đã chết nhưng từ những lời khai ban đầu H khai nhận sau khi đánh H3 thì H tiếp tục xô xát với chị Y, P kể với H là đã dùng mũ bảo hiểm của mình đánh chị Y 1 cái để chị Y buông H ra. Như vậy, tại hiện trường thu giữ 02 mũ bảo hiểm, có 01 cái mũ bảo hiểm đã vỡ, 01 cái còn nguyên là phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án. Từ đó có cơ sở khẳng định, H là người đã dùng mũ bảo hiểm đánh bị hại H3 và được bà H7 can ngăn giật lấy mũ bảo hiểm và đập vỡ.

Về thương tích của bị hại đã được chứng minh trong quá trình điều tra và điều tra bổ sung tại các bút lục 211 và 381 được thu thập tại hồ sơ vụ án cho thấy bị hại đã cấp cứu sau khi bị đánh.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị Mỹ H và Đặng Thị Mỹ H1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Như vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Xét kháng cáo của bị hại Trương Lê Thanh H3:

Bị hại cho rằng cấp sơ thẩm đã không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H. Xét thấy, sau khi đánh bị hại, các bị cáo bỏ về và không có hành động thâm độc, khó lường trước hoặc hành động dữ tợn, phá phách nhằm trốn tránh, tẩu thoát nên không áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với các bị cáo là có căn cứ.

Bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo vì lý do các bị cáo quanh co, chối tội, không thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, làm khó khăn trong quá trình xác minh, điều tra vụ án và làm cho vụ việc kéo dài. Hồi đồng xét xử thấy rằng, khi điều tra các bị cáo đã khai báo đầy đủ hành vi của mình, các bị cáo không buộc phải nhận tội mà việc chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo quanh co chối tội thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

Từ những phân tích trên thấy rằng, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã bồi thường hơn 2/3 thiệt hại cho phía bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo H mức án 09 tháng tù và bị cáo H1 mức án 06 tháng tù là thỏa đáng, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được áp dụng. Nên kháng cáo của bị hại là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Mỹ H1:

Mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không nhận tội nhưng sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã có văn bản và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo đã nhận thức đầy đủ hành vi của mình, ngay từ giai đoạn điều tra bị cáo khai báo đầy đủ và đúng sự thật việc dùng tay chân đánh bị hại, biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, biết lỗi và ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy trong vụ án vai trò của từng bị cáo được phân hóa rõ ràng, đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, bị cáo thực hiện với vai trò giúp sức, Xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có việc làm và chổ ở ổn định, có khả năng tự cải tạo sửa chữa việc cho bị cáo cải tạo tại chỗ dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét bị cáo được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Mỹ H1, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

[6] Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo Đặng Thị Mỹ H và bị hại Trương Lê Thanh H3 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HSST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Mỹ H.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HSST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Mỹ H1.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 29/12/2025.

    Giao bị cáo Đặng Thị Mỹ H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Thị Mỹ H và bị hại Trương Lê Thanh H3, mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSVN Công an tỉnh
  • - TAND khu vực 1;
  • - Phòng THADS khu vực 1;
  • - VKSND khu vực 1
  • - UBND xã Tuy Phước;
  • - Bị cáo; NTGTT
  • - Lưu VT, THS, HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 118/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa 1 phần
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger