|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2025/HS-PT |
|
|
Ngày 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Thu Hường |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thu Huyền |
| Bà Nguyễn Thị Thanh Hà |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1197/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Mai Tuấn V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 365/2024/HS-ST ngày: 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Mai Tuấn V, sinh năm 1986; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT:Số A tổ C phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội (số mới: 27B ngõ A phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Mai Tuấn G và bà: Phạm Thị Đ; Vợ: Lê Ngọc Á; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án: Bản án số 46/2011/HSST ngày 22/11/2011 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 24/01/2014, chưa thực hiện trách hiêm dân sự); Bản án số 171/2022/HSST ngày 21/9/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 14/4/2023); Nhân thân: Bản án số 212/2007/HSST ngày 15/6/2007 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (ra trại ngày 12/11/2008); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1992; Trú tại: số F ngõ E đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn C, sinh năm 1986; trú tại P T phường T, quận C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 20/09/2024, Mai Tuấn V điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, mang biển kiểm soát 37N1-33.080 đi từ nhà tại địa chỉ số A tổ C phường K, quận Đ, Hà Nội đến nơi làm việc. Khi đi vào ngõ D đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, V nhìn thấy chị Nguyễn Thị Kim A đang đi bộ ngược chiều với V, tay trái chị Kim A cầm chiếc điện thoại Iphone 11 màu vàng, có ốp bằng nhựa dẻo bên ngoài. Thấy vậy, V điều khiển xe máy tiến đến gần chị Kim A và bất ngờ dùng tay trái của mình giật lấy chiếc điện thoại của Kim A rồi tăng ga phóng xe bỏ chạy. Sau đó V cất giấu chiếc điện thoại vừa cướp giật được tại vườn hoa ngã tư P - T. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, V đến vườn hoa lấy chiếc điện thoại trên và bán cho một người không quen biết tại lối đi xe máy từ Trần Duy H rẽ Phạm H1 trước cửa siêu thị B, quận C, thành phố Hà Nội với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền này V đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 20/9/2024, chị Nguyễn Thị Kim A đã trình báo sự việc trên lên Cơ quan Công an.
Ngày 21/9/2024, Mai Tuấn V đã đến Công an phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ:
Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã thu giữ của Mai Tuấn V: 01 chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 37N1-330.80, số khung 3917KY218441, Số máy JA39E1076883; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay màu trắng; 01 chiếc quần bò màu đen xám; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen.
Kết luận định giá tài sản số 214/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ kết luận như sau:
“Chiếc điện thoại Iphone 11 màu vàng, bản 64Gb đã qua sử dụng, chưa thu hồi định giá 6.470.000 đồng (sau triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).”
Kết luận giám định số 7183/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận như sau:
“Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, đeo biển kiểm soát 37N1-330.80: Số khung RLHJA3917KY218441, số máy JA39E-1076883 là số nguyên thủy.”
Đối với đối tượng mua chiếc điện thoại của Mai Tuấn V đã cướp giật, V không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, đeo biển kiểm soát 37N1-330.80, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là anh Trần Văn C. Anh C thuê V làm nhân viên trông xe tại đây và cho V mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. Anh C không biết V sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Do đó Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Văn C.
2
Trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố, bị can Mai Tuấn V chưa bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Kim A. Chị Kim A yêu cầu Mai Tuấn V phải bồi thường số tiền 6.470.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 356/CT-VKSĐĐ ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Mai Tuấn V về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Bản án sơ thẩm số 365/2024/HS-ST ngày: 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã quyết định
- Xử phạt: Bị cáo Mai Tuấn V 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
- Buộc bị cáo bồi thường trị giá chiếc điện thoại Iphone 11 cho chị Nguyễn Thị Kim A với số tiền 6.470.000 (sáu triệu bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/11/2024 bị cáo Mai Tuấn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là nghiêm khắc với mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm: xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm 03 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Bị cáo không phải nộp án phí phúc thẩm. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Theo lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 35 phút ngày 20/9/2024, tại khu vực ngõ D đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, Mai Tuấn V đã có hành vi cướp giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, trị giá 6.470.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim A bằng thủ đoạn nguy hiểm, vừa đi xe máy vừa giật điện thoại, đe dọa đến sức khỏe của chị Kim A rồi nhanh chóng tẩu thoát. Vì vậy Mai Tuấn V phạm tội Cướp giật tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
3
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Mai Tuấn V về tội cướp giật tài sản theo quy định tại tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn V, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân có 03 tiền án trong đó có 02 tiền án chưa được xóa. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là nghiêm khắc, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo cần sửa bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn V; sửa bản án sơ thẩm số: 365/2024/HS-ST ngày: 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
[2]. Căn cứ điểm d, I khoản 2 điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Mai Tuấn V 06 (sáu) năm tù về tội cướp giật tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
[3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hường |
4
Bản án số 118/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự - cướp giật tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 118/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Cướp giật tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự - Mai Tuấn Việt
