|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG ——————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 118/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/6/2025 V/v: “tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phước, ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Mai Thị V, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Có mặt).
-
Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị V trình bày như sau:
Bà và ông Phạm Văn L tự tìm hiểu, sau đó kết hôn với nhau vào năm 2000, có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 23/12/2002.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L có quan hệ qua lại với người phụ nữ khác nên vợ chồng xảy ra cự cãi, mâu thuẫn kéo dài tới giữa năm 2024 thì vợ chồng sống ly thân tới nay. Ngoài ra, vợ chồng tính tình không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi với nhau về tiền bạc
1
trong gia đình, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L. Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Mai Kim N, sinh ngày 08/6/2001 và Phạm Chí T, sinh ngày 30/4/2003, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng bà không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Lời khai của bị đơn ông Phạm Văn L trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Ông thống nhất theo lời trình bày của bà V về quá trình tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về tiền bạc, kinh tế trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Ngày 30/4/2024, bà V lên Bình Dương ở trọ sinh sống và làm việc. Trong khoản thời gian này, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn về tiền bạc, bà V nghi ngờ ông lấy tiền cho người khác nên cự cãi với nhau. Đến ngày 14/7/2024 (ÂL), bà V bỏ nhà ra đi đến nay, vợ chồng không liên lạc. Ông vẫn còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn. Ngoài ra, hiện nay con trai út của ông đang học đại học năm cuối, cha mẹ ly hôn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, học hành của cháu nên ông không muốn ly hôn. Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Mai Kim N, sinh ngày 08/6/2001 và Phạm Chí T, sinh ngày 30/4/2003, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa: Bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên: Về hôn nhân: Bà Mai Thị V được ly hôn với ông Phạm Văn L. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Bà V chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
2
- [1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn ông Phạm Văn L có hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.
- Ông Phạm Văn L (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông L.
-
[2] Về nội dung:
-
[2.1] Về hôn nhân: Bà V và ông L chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 23/12/2002 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà V xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Cả hai bên đều thừa nhận có xảy ra bất đồng trong cuộc sống vợ chồng, nguyên nhân chủ yếu do mâu thuẫn về tiền bạc và nghi ngờ lẫn nhau, dẫn đến tình trạng cự cãi kéo dài. Bà V cho rằng ông L có quan hệ với người phụ nữ khác, còn ông L thì xác định bà V nghi ngờ ông nên dẫn đến cãi vã. Từ giữa năm 2024, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Thực tế cho thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, mặc dù ông L không đồng ý ly hôn với lý do vẫn còn tình cảm và lo ngại việc cha mẹ ly hôn sẽ ảnh hưởng đến việc học tập, tâm lý của con trai út đang học đại học, tuy nhiên hai con chung của vợ chồng đều đã thành niên, không còn thuộc đối tượng cần giải quyết về quyền nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Mặt khác, ông L cũng xác nhận từ tháng 7/2024 đến nay bà V đã bỏ đi và hai bên không còn liên lạc. Tình trạng hôn nhân thực tế của hai bên hiện đã rạn nứt nghiêm trọng, vợ chồng không còn chung sống, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau trên thực tế, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà V được ly hôn với ông L.
- [2.2] Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Mai Kim N, sinh ngày 08/6/2001 và Phạm Chí T, sinh ngày 30/4/2003, hiện nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông L và bà V không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét.
-
[2.1] Về hôn nhân: Bà V và ông L chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 23/12/2002 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà V xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.
- [3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4] Bà V phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ
3
luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị V.
- Về hôn nhân: Bà Mai Thị V được ly hôn với ông Phạm Văn L.
- Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Mai Kim N, sinh ngày 08/6/2001 và Phạm Chí T, sinh ngày 30/4/2003, hiện nay đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L và bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Về án phí sơ thẩm: Bà Mai Thị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021714 ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ông Phạm Văn L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Bà Mai Thị V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
4
5
Bản án số 118/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 118/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
