|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:
118/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông La Văn Việt.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 511/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thành Đ, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số D, đường số D, ấp A, Phạm Văn H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ: Luật sư Dương Thị Kim T – Trưởng Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.
- Bị đơn: Bà Trương Thị K, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà T có mặt; ông Đ, bà K có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 15 tháng 4 năm 2025 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Võ Thành Đ trình bày: Ông và bà Trương Thị K chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 20/3/1990. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm về sau thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên ông xin ly hôn với bà Trương Thị K.
Về con chung: Ông và bà Trương Thị K chung sống có 03 con chung tên Võ Thị Trương C, sinh ngày 03/10/1984, Võ Thị Trương T1, sinh ngày 10/6/1987 và Võ Thị Trương L, sinh ngày 03/3/1989. Tất cả các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông và bà K không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Trương Thị K trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ về thời gian đăng ký kết hôn, về con chung, về tài sản chung và nợ chung. Nay ông Đ xin ly hôn, bà K đồng ý.
Về con chung: Bà và ông Võ Thành Đ chung sống có 03 con chung tên Võ Thị Trương C, sinh ngày 03/10/1984, Võ Thị Trương T1, sinh ngày 10/6/1987 và Võ Thị Trương L, sinh ngày 03/3/1989. Tất cả các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Thành Đ là Luật sư Dương Thị Kim T trình bày:
Về điều kiện kết hôn: Bà Trương Thị K và ông Võ Thành Đ kết hôn vào năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà K và ông Đ chung sống với nhau có 03 con chung tên Võ Thị Trương C, sinh ngày 03/10/1984, Võ Thị Trương T1, sinh ngày 10/6/1987 và Võ Thị Trương L, sinh ngày 03/3/1989. Các con chung đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà K và ông Đ có tài sản chung nhưng ông Đ không tranh chấp nên không liệt kê cụ thể, sẽ tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà K và ông Đ cũng không có nợ ai.
Theo ông Đ, những năm sau kết hôn, vợ chồng ông Đ và bà K thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc nên ông xin ly hôn với bà K. Bà K thống nhất với lời trình bày của ông Đ và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Đ, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và xin giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa, ông Đ và bà K đều xin vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên lời trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa: Áp dụng Điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình, cho bà K và ông Đ ly hôn vì cả hai đều xác định mục đích hôn nhân không đạt được nếu kéo dài.
Từ những nhận định như trên, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ông Võ Thành Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị K, bà K hiện thường trú và có mặt tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Võ Thành Đ và bị đơn là bà Trương Thị K đều có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Thành Đ và bà Trương Thị K chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình chung sống, ông Đ và bà K đều cho rằng, do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông Đ và bà K cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của ông Đ và bà K là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Ông Đ và bà K thống nhất trình bày, trong quá trình chung sống, ông bà có 03 con chung tên Võ Thị Trương C, sinh ngày 03/10/1984, Võ Thị Trương T1, sinh ngày 10/6/1987 và Võ Thị Trương L, sinh ngày 03/3/1989. Tất cả con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Về tài sản chung: Ông Đ và bà K thống nhất trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu ông bà có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[5]. Về nợ chung: Ông Đ và bà K thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu ông bà có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[6]. Ông Đ và bà K trình bày thống nhất tất cả các vấn đề ly hôn, tuy nhiên, cả hai ông bà đều có đơn xin vắng mặt nên không thể ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các đương sự.
[7]. Xét quan điểm bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ là phù hợp nên HĐXX ghi nhận.
[8]. Từ những nhận định như trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận.
[9]. Về án phí: Ông Võ Thanh Đ1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, ông Đ1 là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành Đ đối với bà Trương Thị K về việc “Ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Thành Đ được ly hôn với bà Trương Thị K.
- - Về con chung: Ông Đ và bà K trình bày, trong quá trình chung sống, ông bà có 03 con chung tên Võ Thị Trương C, sinh ngày 03/10/1984, Võ Thị Trương T1, sinh ngày 10/6/1987 và Võ Thị Trương L, sinh ngày 03/3/1989. Tất cả con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản chung: Ông Đ và bà K trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu ông bà có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- - Về nợ chung: Ông Đ và bà K trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu ông bà có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
2. Về án phí: Ông Võ Thành Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, ông Đ là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 118/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 118/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thành Đ ly hôn Trương Thị K
