|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2025.
V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Xuân Hương và ông Nguyễn Nhân Phái.
Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Văn Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc - số E đường L, tổ dân phố M, thị trấn P, huyện P, thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc: Ly hôn, nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị T (căn cước công dân số [...], cấp ngày 01/4/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ C), sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện P, thành phố Huế; có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phan S (căn cước công dân số [...], cấp ngày 15/3/2024 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công an), sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện P, thành phố Huế; vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 07 tháng 02 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Mai Thị T trình bày như sau: Chị Mai Thị T và anh Phan S có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2004 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh S nhiều lần sử dụng rượu bia, có đánh đập chị T. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân được khoảng 02 năm, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Nay chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh S, không thể trở về chung sống với anh S nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan S. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T trình bày vợ chồng có 03 người con chung là: Phan Thị Ngọc A, sinh ngày 30/7/2003; Phan Thị Ngọc O, sinh ngày 16/12/2004 và Phan Mai Bảo N, sinh ngày 08/01/2018. Hiện nay cháu N đang sống với chị T nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với hai người con chung là A và O đã trên 18 tuổi nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Phan S về việc chị T yêu cầu ly hôn, giải quyết về nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh S không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt, nên Toà án đã thực hiện việc niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với bị đơn là anh Phan S.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do và không vì trở ngại khách quan hay lý do bất khả kháng. Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với bị đơn là anh Phan S. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị T và anh Phan S có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2004 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa chị T và anh S, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình sống chung có hạnh phúc được một thời gian, sau đó giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên giữa hai người không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã, có đánh đập. Khoảng 02 năm cho đến nay nguyên đơn (chị T) và anh S đã sống ly thân. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị T.
[2.2] Về việc nuôi con:
Đối với 02 người con chung là Phan Thị Ngọc A, sinh ngày 30/7/2003 và Phan Thị Ngọc O, sinh ngày 16/12/2004, hiện nay đã trên 18 tuổi, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với người con chung là Phan Mai Bảo N, sinh ngày 08/01/2018, hiện nay đang sống cùng với chị T nên việc giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị T, chị Mai Thị T được ly hôn anh Phan S.
- Về việc nuôi con chung: Giao người con chung là Phan Mai Bảo N, sinh ngày 08/01/2018 cho chị Mai Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phan S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005486 ngày 14/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc, thành phố Huế. Chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Trần Ngọc Tú |
Bản án số 118/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 118/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
