Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/DS-ST

Ngày: 27/11/2025.

“V/v Tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hai

2. Ông Lê Văn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 50/2025/TLST-DS ngày 06/3/2025 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2025/QĐXXST-DS ngày 10/11/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Văn N, sinh năm 1957 (có mặt).

Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp);

- Bị đơn: Phạm Tấn T, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: tổ E, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: tổ E, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp);

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1962 (có mặt).
  2. Huỳnh Vĩnh T1, sinh năm 1988 (ủy quyền cho ông Huỳnh Văn N theo giấy ủy quyền ngày 14/10/2025).
  3. Võ Thị Hồng T2, sinh năm 1995 ủy quyền cho ông Huỳnh Văn N theo giấy ủy quyền ngày 14/10/2025).

Cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp);

  1. Mai Thị B, sinh năm 1963 (ủy quyền cho anh Phạm Thành C theo Giấy ủy quyền ngày 24/11/2025)
  2. Phạm Thành C, sinh năm 1986 (có mặt).
  3. Phạm Minh P, sinh năm 1993 (có mặt).

Cùng địa chỉ: tổ E, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ trước khi sắp xếp: tổ E, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Huỳnh Văn N trình bày:

Ngày 09/05/1989 ông Huỳnh Văn N mua đất của vợ chồng bác của ông N là ông Huỳnh Văn B1 và bà Nguyễn Thị M1 một phần đất diện tích khoảng 1.500m² (đất vườn); Đất tại: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là: tổ A, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp) với giá 05 chỉ vàng 24Kr. Đến năm 2009, địa phương có chủ trương đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N có báo với ông T đến chứng kiến để cắm trụ đá xác định ranh đất giữa 02 bên, nhưng ông T không chứng kiến mà bảo ông N cứ cắm trụ đá ở giữa mương làm ranh, sau đó ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có biên bản đo đạc thực tế trong hồ sơ cấp giấy. Tuy nhiên toàn bộ cái mương này thuộc về phần đất bên hộ ông N, con mương là của ông B1 đào trước đó, nhưng để hài hòa giữa hai bên nên ông N vẫn cắm trụ đá ranh ở giữa mương, để xác định ranh đất giữa hai bên. Sau khi cắm ranh thì đến năm 2010 thì ông N được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lần đầu là thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35, diện tích 1.294m² do hộ ông N đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Hộ gia đình sử dụng đất của ông N tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 03 người: Huỳnh Văn N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Vĩnh T1 ngoài ra không còn ai khác, còn chị Võ Thị Hồng T2 là con dâu ông N trước đất do ông N không biết nên mới để tên chị T2 vào đơn khởi kiện.

Cặp ranh thửa đất số 450 là thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T, giữa thửa đất số 450 và thửa đất của hộ ông T có 01 con mương ranh chiều ngang khoảng 02m, chiều dài khoảng 50m, con mương này do ông Huỳnh Văn B1 đào làm mương ranh. Sau khi sang nhượng đất ông N đã sử dụng con mương này để lấy nước tưới tiêu (hiện nay con mương cỏ mái dầm đã mọc bít hết).

Năm 2013 ông T kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 thì ông N có chỉ ranh đất và ông N có ký tên giáp ranh vào Biên bản ngày 15/3/2013 để ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào ngày 09/6/2022, ông Phạm Tấn T thấy hai cha con ông Nghiệp tưới vườn bên đất của ông N thì nói rằng toàn bộ cái mương này (chiều ngang khoảng 02m, chiều dài khoảng 50m) là đất của ông T. Ngày 02/12/2024 ông N thuê ông C1 (biệt danh là Tám B2) (là em ruột thứ tám của ông Phạm Tấn T) để vét mương ranh thì ông T ra chửi ông N và nhổ bỏ trụ đá làm ranh đất.

Hộ ông N thống nhất các mốc giới theo sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng Đ và không có bổ sung gì thêm. Phần đất tranh chấp thể hiện qua các mốc 1, 2, 3, 4, 1 diện tích là 104m². Trong quá trình giải quyết vụ án xác định ranh đất là đoạn thẳng nối các mốc 1, 4 (đây là mốc giới giữa mương) trên sơ đồ ngày 03/11/2025. Tuy nhiên để có thể hòa giải nên ông N đồng ý chia diện tích đất tranh chấp từ giữa mương trở về đất của ông N (cũng là diện tích đất tranh chấp 104m²) là 03 phần: ông N 02 phần, ông T 01 phần, cụ thể: Ông Huỳnh Văn N đồng ý lùi lại về phía đất ông N và xác định ranh đất là đoạn thẳng nối mốc A - B trên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV làm ranh đất

Ông Huỳnh Văn N thống nhất thỏa thuận với các đương sự khác trong vụ án với giá trị thị trường thửa đất ở nông thôn là 560.000 đồng/m²; Giá trị đất trồng cây lâu năm thửa 260 là 127.500 đồng/m², giá đất trồng cây lâu năm thửa 450 là 112.500 đồng/m² thống nhất diện tích đất tranh chấp là đất trồng cây lâu năm, hộ ông N không yêu cầu định giá.

Nay ông Huỳnh Văn N đồng ý xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông N và thửa 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông T là đoạn thẳng nối các mốc A-B trên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Phạm Tấn T trình bày:

Thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T do cha, mẹ ông T cho tiếp giáp thủy lợi và tiếp giáp với đất ông T3, ông N. Thửa đất số 260 của ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sư dụng đất lần đầu vào năm 2013 khi cấp thì có đo đạc thực tế có ký giáp ranh. Tuy nhiên, đất của ông T khi chưa được cấp giấy là 02 công, nhưng khi ông T đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người ta cấp Giấy nói đo theo thực tế nên ông T thông nhất, do đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260, tờ bản đồ số 35, diện tích 1.638m², khi cấp Giấy có ký giáp ranh theo Biên bản đo đạc ngày 15/3/2013, sau khi cấp Giấy hộ ông T cũng không khiếu nại đến bất cứ cơ quan nào về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 được cấp cho hộ gia đình ông T. Hộ gia đình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 của ông T tại thời điểm cấp giấy gồm có 04 người: ông Phạm Tấn T, bà Mai Thị B, anh Phạm Thành C, anh Phạm Minh P ngoài ra không còn ai khác.

Theo số liệu trên sơ đồ hộ ông T thống nhất với sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 diện tích đất còn lại của thửa 260 và diện tích đất tranh chấp là 104m² đây là phần đất mà ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hộ ông Phạm Tấn T thống nhất thỏa thuận với các đương sự khác trong vụ án với giá trị thị trường thửa đất ở nông thôn là 560.000 đồng/m²; Giá trị đất trồng cây lâu năm thửa 260 là 127.500 đồng/m², giá đất trồng cây lâu năm thửa 450 là 112.500 đồng/m² thống nhất diện tích đất tranh chấp là đất trồng cây lâu năm. Hộ ông T không yêu cầu định giá.

Ông Phạm Tấn T không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông N, ông T xác định ranh đất thửa 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông T và thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông N là đoạn thẳng nối các mốc 2, 3 trên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

  1. Bà Nguyễn Thị M thống nhất theo yêu cầu, ý kiến của ông Huỳnh Văn N và không còn ý kiến trình bày gì thêm.
  2. Anh Nguyễn Thành C2, anh anh Phạm Minh P thống nhất toàn bộ ý kiến của ông T và không còn ý kiến trình bày gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N và ý kiến người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M về xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Huỳnh Văn N và thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T là đoạn thẳng nối các mốc A - B trên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV.
    2. Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông N yêu cầu xác định ranh đất thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của ông N và thửa giữa 260, tờ bản đồ số 35 của ông T. Đất tại: xã P, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

[2] Về tài liệu chứng cứ đương sự đã nộp và Tòa án đã thu thập trong vụ án:

[2.1] Tài liệu chứng cứ nguyên đơn ông Huỳnh Văn N đã nộp để chứng minh cho yêu cầu của ông N: Biên bản hòa giải tranh chấp ranh đất 10/5/2023; 07/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã A (bản chính); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 450 (bản sao); Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/6/2023 (bản sao); Hồ sơ cấp giấy thửa 450 (bàn sao); Hồ sơ cấp giấy thửa 260 (bản sao)

[2.2] Tài liệu chứng cứ bị đơn ông Phạm Tấn T đã nộp để chứng minh cho ý kiến của ông T: không.

[2.3] Tài liệu chứng cứ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà M, anh C2, anh P đã nộp: Không.

[2.4] Tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được: Công văn số 67/CV-TA ngày 31/7/2025 của Công an xã P (bản chính); Biên bản ghi lời khai các đương sự (bản chính);

Ngoài các tài liệu chứng cứ trên thì các đương sự trong vụ án không nộp tài liệu chứng cứ nào khác.

[3] Về hộ gia đình sử dụng đất:

[3.1] Hộ gia đình sử dụng đất của ông Huỳnh Văn N: Ông N trình bày hộ gia đình sử dụng đất của ông N tại thời điểm cấp giấy lần đầu ngày 13/4/2010 gồm 03 người: Huỳnh Văn N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Vĩnh T1, ngoài ra không còn ai khác. Theo Công văn số 67/CV-CSKV ngày 31/7/2025 của Công an xã P xác định tại thời điểm cấp Giấy hộ khẩu của gia đình ông N gồm: Huỳnh Văn N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Vĩnh T1, Huỳnh Thanh T4. Anh Huỳnh Thanh T4 là con ông N có văn bản trình bày ngày 26/11/2025 không có công sức đóng góp, không phải là thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất của ông N, không tranh chấp thửa đất số 450, không yêu cầu đưa làm người liên quan tham gia tố tụng. Theo quy định tại Điều khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai quy định “hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”. Từ căn cứ trên Hội đồng xét xử xác định hộ gia đình sử dụng đất khi cấp giấy ngày 13/4/2010 của ông N gồm 03 người: Huỳnh Văn N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Vĩnh T1 là đúng quy định của pháp luật.

[3.2] Hộ gia đình sử dụng đất của ông Phạm Tấn T: Ông T trình bày tại thời điểm cấp giấy ngày 23/10/2013 gồm 04 người: Phạm Tấn T, Mai Thị B, Phạm Thành C, Phạm Minh P. Theo công văn 67/CV-CSKV ngày 31/7/2025 của Công an xã P xác định hộ khẩu của ông T tại thời điểm cấp giấy như ông T trình bày. Theo quy định tại Điều khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định “hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”. Từ căn cứ trên Hội đồng xét xử xác định hộ gia đình sử dụng đất ông T khi cấp giấy 23/10/2013 gồm 04 người: Phạm Tấn T, Mai Thị B, Phạm Thành C, Phạm Minh P là đúng quy định của pháp luật.

[4] Về giá trị tài sản tranh chấp: Các đương sự ông Huỳnh Văn N, bà Nguyễn Thị M, ông Phạm Tấn T, anh Phạm Thành C, anh Phạm Minh P thống nhất thỏa thuận giá trị thị trường tài sản đang tranh chấp là đất ở nông thôn là 560.000 đồng/m²; Giá trị đất trồng cây lâu năm thửa 260 là 127.500 đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm thửa 450 là 112.500 đồng/m² thống nhất diện tích đất tranh chấp là đất trồng cây lâu năm, các đương sự thống nhất không yêu cầu định giá. Căn cứ khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự tự thỏa thuận giá là phù hợp với quy định nên chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến trình bày của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông N yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của ông N và thửa giữa 260, tờ bản đồ số 35 các mốc A, B trên sơ đồ đo đạc. Ông T không đồng ý và yêu cầu xác định các mốc 2, 3 trên sơ đồ đo đạc. Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của ông N khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không đo đạc thực tế, không ai ký giáp ranh, tuy nhiên thửa đất số 260 của ông T được cấp giấy lần đầu năm 2013 có đo đạc thực tế, ông N ký giáp ranh. Theo ranh giới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 vào năm 2013 có biên bản ký giáp ranh ngày 15/3/2013 đối chiếu lên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV là đoạn thẳng nối các mốc 1, 4. Đồng thời ranh giới này khi được cấp giấy ông T cũng thống nhất khiếu nại không ý kiến gì về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 của ông T. Ngoài ra ông T còn thừa nhận thửa đất của ông T tiếp giáp với đất của ông N, khi ông T được cấp Giấy ông N có ký giáp ranh. Do đó ông T cho rằng phần diện tích đất tranh chấp 104m² là của ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở, ông N cho rằng diện tích 104m² là thuộc thửa đất của ông N là có cơ sở.

Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hộ ông N đồng ý chia diện tích đất tranh chấp 104m² thành 03 phần: hộ ông N 02 phần, hộ ông T 01 phần, cụ thể: Hộ ông Huỳnh Văn N đồng ý lui lại về phía đất hộ ông N từ mốc 01 lùi về 0,78m là mốc A, từ mốc 4 lùi về 0,85m² là mốc B và xác định ranh đất là đoạn thẳng nối mốc A - B trên sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV làm ranh đất giữa thửa đất 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông N và thửa giữa 260, tờ bản đồ số 35 hộ ông T là sự tự nguyện của hộ ông N có lợi cho hộ ông Phạm Tấn T. Căn cứ các Điều 175, 176 Bộ luật Dân Dân sự yêu cầu và sự tự nguyện của hộ ông N là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, ý kiến của hộ ông T là không có cơ sở để chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu của ông N được chấp nhận nên ông T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông T, sinh năm 1964 theo quy định là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của ông Huỳnh Văn N được chấp nhận. Căn cứ và các Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Phạm Tấn T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Do ông Huỳnh Văn N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 6.823.140 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.223.140 đồng; Chi phí thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng) nên ông T phải trả lại cho ông N số tiền 6.823.140 đồng.

[8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 104, 147, 157, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 26, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ vào Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn N về việc yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Huỳnh Văn N và thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T.

    Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Huỳnh Văn N và thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T là đoạn thẳng nối các mốc A - B theo sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV.

    Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 450, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Huỳnh Văn N và thửa thửa đất số 260, tờ bản đồ số 35 của hộ ông Phạm Tấn T được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

    (Kèm theo Bản án là sơ đồ đo đạc ngày 03/11/2025 của Chi nhánh văn phòng Đ; Biên bản xem xét thẩm định tại chổ 19/8/2025).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Tấn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: Ông Phạm Tấn T phải trả cho ông Huỳnh Văn N số tiền 6.823.140 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.223.140 đồng; Chi phí thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng).
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (Nhân)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/DS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 118/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger