|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2025/DS-PT Ngày: 21/02/2025 V/v tranh chấp: “Đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ái Đoan.
Bà Võ Thị Thu Thúy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 14 và 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 661/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Đòi tài sản";
Do bản án dân sự sơ thẩm số 208/2024/DS-ST, ngày 15/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 780/2024/QĐ-PT ngày 26/12/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Hữu T, sinh năm 1983; (có văn bản xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1984;
Địa chỉ: 79/2, tổ 4, Ấp 4, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
Chỗ ở: 52 Trần Văn Hiển, Ấp 3, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị P:
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1974; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
*. Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ P;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Lê Hữu T trình bày: Anh T quen biết chị P năm 2022, chị P giới thiệu cho anh T mua khu đất nền đang phân lô tại xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo thứ tự phân lô là nền số 5, chiều ngang 4m, chiều dài 27m, diện tích 50m² đất thổ cư, giá chủ phân lô bán 500.000.000 đồng/1nền, đặt cọc trước 100.000.000 đồng, 75 ngày sau mới hoàn thành thủ tục phân lô, lúc đó mới ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng và trả số tiền 400.000.000 đồng còn lại;
Chị P nói trong thời gian này tìm người bán lại lô đất trên, có lời vài chục triệu đồng, chị P hưởng 02% hoa hồng của chủ đất. Anh T giao tiền mặt 100.000.000 đồng cho chị P để đặt cọc mua lô đất trên, nhưng trong thời gian chờ ký hợp đồng chuyển nhượng thì lô đất trên chưa bán được;
Đến ngày 17/02/2023, chị P báo cho anh T ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng nền số 5 là thửa đất số 185, tờ bản đồ số 36 tại ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Nhưng anh T chưa có 400.000.000 đồng để giao cho chủ đất nên anh T nhờ chị P xin gia hạn. Theo lời chị P chủ đất không cho gia hạn, chỉ đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên với chị P và trả trước 200.000.000 đồng, tiền còn lại khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị P trả;
Vì chủ đất không biết anh T, không cho anh T nợ và giao dịch đặt cọc thửa đất trên chủ đất giao dịch trực tiếp với chị P. Do đó anh T không còn lựa chọn nào khác, đồng ý để chị P ký nhận chuyển nhượng thửa đất trên, nếu không sẽ mất 100.000.000 đồng tiền đặt cọc;
Ngày 17/02/2023, chị P ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên. Cùng ngày, anh T chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản số 7100950872 của anh T mở tại Ngân hàng Đ (Tên viết tắt: B) qua tài khoản số 0071003507748 của chị P mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N (Tên viết tắt: V) để trả tiền cho chủ đất;
Đến ngày 13/3/2023, chị P báo cho anh T chuẩn bị số tiền 200.000.000 đồng còn lại do chủ đất đã có sổ thửa đất trên nhưng anh T đang đi học tại Cần Thơ hẹn lại cuối tuần về giải quyết. Ngày 16/3/2024, anh T chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản số 7100950872 của anh T mở tại B qua tài khoản số 0071003507748 của chị P mở tại V. Chị P nhận, giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên. Khi đó chị P bàn với anh T, thời điểm này đất không bán được, nếu xây nhà bán kiến cố sẽ dễ bán hơn và có lời ít cũng được 200.000.000 đồng, nguồn tiền xây dựng nhà trên thửa đất này bằng hình thức vay thế chấp thửa đất trên, khi bán được nhà thì lời sẽ chia đôi nên anh T đồng ý;
Chị P trực tiếp thiết kế mẫu nhà, tìm nhà thầu xây dựng, làm thủ tục xin giấy phép xây dựng, chuyển mục đích sử dụng lên đất ở thêm 51,7m² vì diện tích đất ở theo giấy chỉ có 54,7m² không đủ diện tích để xây nhà. Ngày 19/4/2023, anh T chuyển 30.000.000 đồng từ tài khoản của anh T qua tài khoản của chị P như trên để chị P đóng thuế diện tích đất ở tăng thêm mới xây nhà được. Trong thời gian xây nhà, chị P gửi ảnh, thông tin cho anh T: hình ảnh hợp đồng, chi phí xây nhà của thầu xây dựng, tiền vay và yêu cầu anh T mượn tiền đưa chị P để trả các chi phí này nhưng anh T không còn khả năng. Do anh T đang đi học tại Cần Thơ, anh T không hay biết chị P đã bán nhà đất trên, cũng không trả lại tiền cho anh T đã chuyển cho chị P để mua thửa đất trên. Anh T yêu cầu chị P trả lại cho anh T số tiền 530.000.000 đồng, trong đó: 500.000.000 đồng chuyển và giao tiền mặt cho chị P đặt cọc và ký nhận chuyển nhượng thửa đất trên và 30.000.000 đồng chuyển cho chị P để đóng thuế lên thổ cư diện tích đất ở tăng thêm.
* Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ P có đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Hoàng A trình bày: Chị P thừa nhận anh T có chuyển cho chị P tổng số tiền là 430.000.000 đồng. Nhưng chị P cho rằng số tiền này là do anh T tặng cho chị P nên chị P không đồng ý trả cho anh T.
Bản án dân sự sơ thẩm số 208/2024/DS-ST, ngày 15/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273; khoản 1 Điều 143, 147 và Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 105, Điều 165, 166, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hữu T.
Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ P có nghĩa vụ trả cho anh Lê Hữu T số tiền 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 24/2024/QĐ-BPKCTT ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị kháng cáo, kháng nghị. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 25.200.000 đồng (hai mươi lăm triệu hai trăm ngàn đồng);
Anh Lê Hữu T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.600.000 (Mười hai triệu sáu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0005942 ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang.
Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự;
Ngày 24/9/2024, đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị Mỹ P là anh Nguyễn Hoàng A kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, không đồng ý quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị Mỹ P là anh Nguyễn Hoàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Hữu T;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:
[1]. Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hạn kháng cáo, sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Đòi tài sản” được quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào đơn kháng cáo của những người kháng cáo và biên lai nộp tạm ứng án phí phúc thẩm thì những người kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Xét trong quá trình thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Lê Hữu T có văn bản xin vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Xét việc giao nhận tiền số tiền 430.000.000 đồng giữa anh Lê Hữu T và chị Nguyễn Thị Mỹ P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, lời thừa nhận của anh T và chị P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Nguyễn Thị Mỹ P thừa nhận anh Lê Hữu T đã dùng số tài khoản 7100950872 của anh T mở tại B đã thực hiện việc chuyển tiền vào tài khoản số 0071003507748 của chị P mở tại V các lần và số tiền như sau:
Ngày 17/02/2024, chuyển số tiền 200.000.000 đồng; Ngày 16/3/2024, chuyển số tiền 200.000.000 đồng và ngày 19/4/2024, chuyển số tiền 30.000.000 đồng tổng cộng là 430.000.000 đồng;
Chị P cho rằng số tiền 430.000.000 đồng là số tiền anh T tặng cho chị P nhưng không có căn cứ gì chứng minh và anh T cũng không thừa nhận tặng cho chị P số tiền này mà là anh T chuyển khoản số tiền này cho chị P để chị P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 185 cho anh T.
Do đó có cơ sở xác định chị P có nhận tiền từ anh T bằng hình thức chuyển khoản với số tiền 430.000.000 đồng nên anh T kiện đòi số tiền này có có cơ sở.
[2.2]. Xét việc giao nhận tiền số tiền 100.000.000 đồng giữa anh T và chị P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Anh T cho rằng anh T có đưa trực tiếp cho chị P số tiền 100.000.000 đồng để chị P thực hiện giao dịch đặt cọc, ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 185 cho anh T từ anh K;
Chị P cho rằng chị P dùng tiền của chị P để đặt cọc cho anh K 100.000.000 đồng;
Căn cứ vào lời trình bày anh Nguyễn Trung K có thỏa thuận và bán cho chị C một phần của thửa 154 do chị T1 vợ của anh K đứng tên quyền sử dụng. Anh K thực hiện phân lô thành nền 3,4,5,6 và khi ra giấy đất thành nhiều thửa 183,184,185,186 vẫn đứng tên;
Căn cứ vào lời thừa nhận của anh K, anh K có nhận tiền cọc của chị P số tiền 100.000.000 đồng để chuyển nhượng thửa đất 185 vào tháng 12/2022 và chị P trực tiếp ký nhận chuyển nhượng thửa đất này từ anh K;
Căn cứ vào lời thừa nhận anh K, chị T1 ký trực tiếp chuyển nhượng các thửa 183,184,185,186 cho những khách hàng của chị C và tháng 12/2022 có ký chuyển nhượng thửa đất 185 cho chị P (tên thường gọi là M) giá 500.000.000 đồng, nhận tiền mặt đặt cọc của chị P 100.000.000 đồng và nói cho chị C biết thửa đất này để lại cho người bạn của chị P mua;
Ngày 13/02/2023, chị C yêu cầu chị P báo cho bạn của chị P ra Văn phòng C1 ký chuyển nhượng thửa đất và đủ tiền 400.000.000 đồng cho chị C nhưng chị P báo cho chị C là khách của chị P chưa có đủ tiền, đang đi học xa không có ở M nên hẹn lại. Đến ngày 16/02/2023 chị P báo cho chị C là bạn chị P ra ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên và đưa trước 200.000.000 đồng, 200.000.000 đồng còn lại khi nào có giấy chứng nhận trả đủ một lần. Chị C trả lời chị P, chị C giao dịch trực tiếp với chị P, chỉ biết chị P, không biết bạn của chị P là ai. Do đó chị C đồng ký cho nợ lại tiền như chị P đề nghị và ký chuyển nhượng thửa đất 185 qua tên chị P;
Chị P liên hệ chị C ký chuyển nhượng thửa đất 185. Chị P đưa tiền mặt 50.000.000 đồng và chuyển 150.000.000 đồng qua tài khoản của chị C. Ngày 05/3/2024, chị P gửi tin nhắn cho chị C hỏi nền số 5 (thửa đất 185) khi nào có sổ vì khách của chị P nhờ lên thêm thổ cứ để cất nhà bán nên chị C nói lấy sổ xong, chị C sẽ ký ủy quyền lên thêm thổ cư theo ý khách;
Ngày 08/3/2023, chị C gửi tin cho chị P báo vài ngày nữa có sổ để biết chuẩn bị 200.000.000 đồng trả cho chị C thì chị P nói khách của chị P đi học, chị P không có tiền cho khách mượn lấy sổ để nay mai khách có tiền về lấy chị P chuyển khoản cho chị C;
Ngày 16/3/2024, chị P nói chị C khách của chị P đã chuyển đủ 200.000.000 đồng cho chị P, chị P nói chị C gửi giấy đất cho chị P và chị C nói chị P chuyển tiền vào tài khoản của chị C 190.000.000 đồng, 10.000.000 đồng là tiền hoa hồng chị C cho chị P. Do anh T tìm gặp chị C về hỏi thông tin về thửa đất 185 chị P nhận chuyển nhượng nên biết được khách của chị P mua thửa đất này là anh T;
Từ những căn cứ trên nhận thấy: Chị P thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 185 từ chị C nhưng anh K, chị T1 là người trực tiếp ký chuyển nhượng cho chị P trị giá 500.000.000 đồng;
Anh T cho rằng có giao cho chị P 100.000.000 đồng để đặt cọc cho anh K nhưng không có căn cứ chứng minh việc anh T có giao cho chị P 100.000.000 đồng để đặt cọc thửa đất 185;
Việc anh T cho rằng chị P nhận số tiền 10.000.000 đồng là tiền hoa hồng 2% của giá trị thửa đất 185 từ chị C nhưng cũng không chứng minh được anh T có giao tiền mặt 100.000.000 đồng chi chị P để chị P đặt cọc nhận chuyển nhượng thửa đất 185;
Do đó, anh T yêu cầu chị P trả số tiền 100.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của anh T;
Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị P, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 105, Điều 165, 166, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.
Xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỹ P;
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 208/2024/DS-ST, ngày 15/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hữu T.
Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ P có nghĩa vụ trả cho anh Lê Hữu T số tiền 430.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi triệu đồng);
Kể từ ngày anh Lê Hữu T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị Mỹ P chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
1.2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 24/2024/QĐ-BPKCTT ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị kháng cáo, kháng nghị. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu án phí sơ thẩm là 21.200.000 đồng (hai mươi mốt triệu, hai trăm ngàn đồng);
Anh Lê Hữu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh T đã nộp là 12.600.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005942 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên trả lại anh T số tiền 7.600.000 đồng (bảy triệu, sáu trăm ngàn đồng).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà chị P đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006621 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 21/02/2025, vắng mặt anh A.
|
*. Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Vĩnh Hữu |
Bản án số 118/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về đòi tài sản
- Số bản án: 118/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi tài sản
