|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HSST Ngày: 08/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Quang Huy
2.Ông Phạm Lành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/HSST ngày 16/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Đình D, tên gọi khác: không; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1973; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Đình N (đã chết) và con bà Phạm Thị H; Vợ: Dương Thị T (Đã ly hôn); có 02 con; Tiền án - Tiền sự: Không.
Nhân thân:Tại Quyết định số 1937 ngày 19/12/2006, Chủ tịch UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc đối với Dương Đình D. Chấp hành xong ngày 31/05/2008; Tại Bản án số 120/2012/HSST ngày 20/04/2012, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ra trại ngày 11/01/2014. Nộp xong án phí ngày 12/10/2012.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Giang N1, sinh năm 1972, trú tại: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực tổ E, phường T, thành phố T thì phát hiên 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Dương Đình D. Quá trình kiểm tra, D tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (niêm phong ký hiệu là A). D khai là ma túy Heroine của D mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Đình D, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,153 gam (niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 195/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,153 gam.
Tại cơ quan điều tra, Dương Đình D khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 05/01/2024, D thuê xe ôm đi từ nhà tại xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ E, phường T, thành phố T mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua 01 gói ma túy Heroine của một nguời đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 100.000 đồng. Sau đó, D cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T, thành phố T bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai nhận của Dương Đình D phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu A1, A2. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại bản cáo trạng số108/CT-VKSTPTN ngày 16/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Dương Đình D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận,vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Đình D phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Đình D: Từ 18 đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Đình D và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Đình D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến với vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, tại tổ E, phường T, thành phố T, Dương Đình D có hành vi tàng trữ 0,153 gam chất ma tuý, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, T bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3]. Bản cáo trạng số 108/CT-VKSTPTN ngày 16/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Đình D về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, H1... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
[4] Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Dương Đình D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về việc xử lý hành vi và các đối tượng có liên quan: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Dương Đình D khai mua của một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực tổ E, phường T, thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: A1, có ghi hoàn trả 0,143 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (Một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: A2, bì lưu kho ban đầu.
[10]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
1/ Xử phạt: Bị cáo Dương Đình D 18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 05/01/2024; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: A1, có ghi hoàn trả 0,143 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Dương Đình D, sinh năm 1973 phạm tội về ma tuý, mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh T và 02 chữ ký của Vũ Quang H2, Nguyễn Minh T2; 01 (Một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: A2, bì lưu kho ban đầu, mặt sau có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T và 05 chữ ký của Hoàng Thị Diệu N2, Nguyễn Văn T3, Dương Đình D, Nguyễn Giang N1, Lê Tuấn A.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 152 ngày 06/5/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
4/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Đình D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5/Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh Hải |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Đình Dần 18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
