|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HSST |
|
|
Ngày: 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Kiều Văn Dậu.
2. Ông Tô Huy Bân.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Việt Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 06/08/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/HSST ngày 18/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 23/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1994.
HKTT: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và bà Vũ Thị L, sinh năm: 1975; Vợ: Trần Thị Lan A, sinh năm 2001 (đã ly hôn măm 2021); có 01 con sinh năm 2019. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Bản án số 205/2018/HSST ngày 27/12/2018 Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 24 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2, Điều 134 BLHS.
- + Bản án số 05/2019/HSST ngày 18/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 14 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 205/2018/HSST ngày 27/12/2018, buộc Đ phải chấp hành chung 02 bản án là 38 tháng tù. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2021.
- + Bản án số 37/2023/HSST ngày 10/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ngà y 24/4/2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Phạm Mỹ A1, sinh năm 1999; Trú tại: Tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (xin vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1994, HKTT: thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh vừa chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2024 và hiện chưa có việc làm. Khoảng 21 giờ ngày 30/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239 đi từ xã Y đến thị trấn C để chơi. Khi Đ điều khiển xe mô tô đi đến đoạn cánh đồng vắng thuộc đường tỉnh lộ 286 hướng Y đi thị trấn C thuộc địa phận thôn P, thị trấn C, huyện Y thì phát hiện thấy anh Hà Văn M, sinh năm 2001, HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode biển kiểm soát: 14U1 – 473.28 chở chị Phạm Mỹ A1, sinh năm 1999, HKTT: tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, hiện đang trọ tại thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đang đi về hướng thị trấn C, huyện Y. Lúc này, Đ nảy sinh ý định chặn xe mô tô của anh M đang chở chị A1 để cướp tài sản. Đ điều khiển xe mô tô đi phía sau theo xe của anh M. Đ đi theo xe của anh M từ xã Y đến ngã tư Bưu điện thị trấn C rồi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã Đ, huyện Y thì Đ đi lên ngang xe của anh M (lúc này anh M đang di chuyển hướng về bến phà Đ, xã Đ, huyện Y) để giả vờ hỏi anh M đường về thôn V, xã Y, huyện Y, anh M tin tưởng đã chỉ đường cho Đ: “Anh đi thẳng đến bến phà Đ thì rẽ phải đi về hướng xã D”. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô đi phía trước xe của anh M và đi chậm về hướng bến phà Đ. Khi Đ đi đến dốc bến phà Đ thì Đ nhìn thấy anh M xuống xe còn chị A1 điều khiển xe mô tô đi một mình quay lại hướng thị trấn C. Đ điều khiển xe mô tô đi phía sau theo xe mô tô của chị A1. Khi chị A1 đi đến đoạn đầu ngõ khu trọ thuộc thôn T, thị trấn C thì Đ điều khiển xe mô tô vượt lên trước đầu xe mô tô của chị A1 (chị A1 đang ngồi trên xe mô tô), chặn xe lại rồi lấy lý do anh M cùng chị A1 vừa chỉ đường sai cho Đ và chửi chị A1: “Chúng mày chỉ đường sai cho tao, chúng mày đùa tao à" đồng thời Đ lao vào gần người chị A1, dùng tay phải tát liên tiếp 2 - 3 cái vào mặt và vào đầu của chị A1. Sau đó Đ dùng tay phải túm tóc, kéo chị A1 ngã xuống đường bê tông và kéo lê về phía trước khoảng 01 mét thì chị A1 hô to "Dì ơi, dì ơi" (mục đích chị A1 muốn gọi dì của chị A1 đang trọ ở cùng khu trọ với chị A1), đồng thời chị A1 vùng dậy bỏ chạy vào trong ngõ khu trọ. Ngay lúc này, Đ dùng tay phải giật đứt dây chiếc túi xách màu đen mà chị A1 đang đeo trên người và ngồi lên xe mô tô điều khiển đi về nhà. Về đến nhà Đăng kiểm tra bên trong chiếc túi xách vừa cướp của chị A1 có 01 chùm chìa khóa (gồm 01 chìa khóa xe mô tô smartkey, 02 chìa khóa cơ ) và số tiền 310.000 đồng tiền mặt. Số tiền này Đ đã tiêu sài cá nhân hết.
Đến ngày 02/5/2024, Nguyễn Hải Đ đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
* Vật chứng tạm giữ do Đ giao nộp gồm: 01 chiếc túi xách bằng da màu đen, loại túi xách nhỏ có hai quai xách; 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa xe mô tô smartkey, 02 chìa khóa cơ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát: 30Y8 - 5239.
Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 989 gửi Trung tâm giám định pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành vết thương của chị Phạm Mỹ A1. Nhưng do vết thương xây sát nhẹ nên khi xảy sự việc chị A1 không đến cơ sở y tế nào để thăm khám và điều trị, đồng thời chị A1 kiên quyết từ chối đến Trung tâm giám định pháp y để giám định thương tích.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: “01 chiếc túi xách có giá trị là 0 đồng”.
Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Ngày 30/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả cho chị Phạm Mỹ A1: 01 chiếc túi xách bằng da màu đen và 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa xe mô tô smartkey, 02 chìa khóa cơ. Chị A1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự. Đối với số tiền 310.000 đồng chị A1 không yêu cầu Đ phải bồi thường dân sự. Về thương tích do bị Đ đánh chị A1 cũng không yêu cầu Đ phải bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Hải Đ về tội "Cướp tài sản" theo quy định tại điểm h khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Mục đích của bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại là để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo nhận thức rõ và thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại là chị Phạm Mỹ A1 trình bày: Ngày 30/4/2024, chị bị Nguyễn Hải Đ thực hiện hành vi cướp tài sản của chị gồm: 01 chiếc túi xách bằng da màu đen, loại túi xách nhỏ có hai quai xách; 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa xe máy Smartkey, 02 chìa khóa cơ và số tiền 310.000đ. Sau khi sự việc xảy ra đến nay, chị đã nhận lại được toàn bộ tài sản bị cướp; đối với số tiền 310.000đ chị không yêu cầu bị cáo phải trả cho chị. Về trách nhiệm dân sự chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, chị đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị L trình bày: Sự việc như quá trình điều tra và bản Cáo tạng truy tố bị cáo Đ là đúng. Bị cáo Đ là con của bà, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239 là của bà. Ngày 30/4/2024, bị cáo Đ mượn xe của bà, không nói cho bà biết mượn xe để đi cướp tài sản. Nay đối với chiếc xe này, bà đề nghị cho bà xin lại để lấy phương tiện đi lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong sau khi phân tích, đánh giá tính chất, nguyên nhân, động cơ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Đ phạm tội Cướp tài sản.
Áp dụng điểm h khoản 2 điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đ từ 08 (tám) năm tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bà Vũ Thị L, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239.
Lưu trong hồ sơ 01 chiếc đĩa CD hỏi cung bị can.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, cùng thời gian, địa điểm phạm tội cũng như lời khai của bị hại, người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ. Nên đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 30/4/2024, tại thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Hải Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239 chặn xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode biển kiểm soát: 14U1 – 473.28 do chị Phạm Mỹ A1 đang điều khiển. Sau đó, Đ dùng tay phải tát vào má, vào đầu của chị A1 và túm tóc, kéo chị A1 ngã xuống đường bê tông, kéo lê về phía trước khoảng 01 mét rồi dùng tay phải giật đứt dây chiếc túi xách màu đen mà chị A1 đang đeo trên người để cướp của chị A1 bên trong túi có: 01 chùm chìa khóa (gồm 01 chìa khóa xe mô tô smartkey, 02 chìa khóa cơ) và số tiền 310.000 đồng tiền mặt.
Bị cáo có 03 tiền án, tại bản án số 37/2023/HSST ngày 10/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2024. Tại Bản án này, bị cáo bị truy tố và xét xử với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Bị cáo Đ chưa được xóa án tích, nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội ở nơi có đông dân cư, điều đó thể hiện sự liều lĩnh, manh động và coi thường pháp luật của bị cáo. Do không kiềm chế được lòng tham của bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy phải đưa ra xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân. Bản thân Nguyễn Hải Đ đã 3 lần bị kết án về thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hải Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hải Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã đầu thú nên bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên xét bị cáo Nguyễn Văn Đ1 là lao động tự do, không có việc làm, không có thu nhập ổn định. Bị cáo không có tài sản gì riêng nên cần miễn phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Phạm Mỹ A1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị L. Khi cho bị cáo Đ1 mượn xe, bà L không biết Đ1 sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bà Vũ Thị L là phù hợp.
- - Đối với chiếc đĩa CD hỏi cung bị can cần lưu giữ trong hồ sơ là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải Đ phạm tội “Cướp tài sản”.
- - Áp dụng điểm h khoản 2 điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Hải Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Đ.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Nguyễn Hải Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Trả lại cho bà Vũ Thị L, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát: 30Y8 – 5239.
- + Lưu trong hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung bị can Đ.
- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Hải Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
- + Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
- + Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./..
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Hà |
Bản án số 118/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 118/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ phạm tội trộm cắp tài sản
