Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 10 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Cẩn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Khắc Thái.

Ông Nguyễn Tiến Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Sơn và ông Phan Anh T – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn Q

(tên gọi khác: Không), sinh ngày: 08/2/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1967 và bà Phan Thị Xuân H, sinh năm: 1964; có vợ là Lê Thị Thanh T2; con: Chưa có; gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ 02;

* Quá trình nhân thân:

Từ nhỏ ở với gia đình, học đến lớp 07/12 thì nghỉ học. Từ năm 2012 đến năm 2022 làm công nhân tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Ngày 29/8/2017, có hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng;
  • Ngày 07/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Sau khi ra tù, về làm thuê, sinh sống cùng vợ tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án:

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, chuyển tạm giam từ ngày 24/5/2024 cho đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1994 (vợ của bị cáo); địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị T3 – Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Căn S Khu đô thị T, số F T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Bị hại:

  • Bà Lê Thị T4, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Ông Phạm D, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Ông Đỗ Chánh S, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn V, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Ông Đỗ Viết T5, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn V, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Anh Cao Hữu Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Văn Quốc T6, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Bà Hồ Thị Q1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Ông Lê Thanh N, sinh năm 1968; địa chỉ: Số B đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Bà Trần Thị Mỹ H1, sinh năm 1960; địa chỉ: Số I đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Ông Lê L, sinh năm 1970; địa chỉ: Số H đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Ông Hồ Văn H2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số F đường S, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Nguyễn Đắc T8, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Ông Dương Quang V, sinh năm 1970; địa chỉ: Số F đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • Ông Lê Văn T1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số E đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Chị Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1994 (vợ của bị cáo); địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024, Lê Văn Q đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 21h00 ngày 26/01/2024, Lê Văn Q mang theo bao tải, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MASESTY, BKS: 74H1-004.30 chạy đến thôn T, xã P, thành phố H để trộm cắp tài sản. Q để xe trên đường bê tông rồi đi vào một nhà dân để trộm cắp thì bị phát hiện, truy hô nên Q để lại xe mô tô rồi bỏ chạy. Khoảng 23h00 cùng ngày, Q đột nhập vào phía sau nhà của chị Lê Thị T4 (sinh năm: 1968) đi đến chuồng gà mở cửa bắt trộm 08 con gà bỏ vào bao tải. Sau đó, Q đi bộ ra bờ ruộng để giấu tài sản trộm được vào một bụi cây rồi tiếp tục đi bộ thì phát hiện bên trong sân nhà của anh Phạm D (sinh năm: 1969) có 01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu đỏ, BKS: 75H2-4950 và chìa khóa vẫn cắm trên xe, cổng nhà không khóa nên Q mở hàng rào thép, vào trong nhà rồi lén lút dắt xe mô tô ra ngoài. Q đến lấy bao tải đựng gà rồi điều khiển xe mô tô SUFAT chạy đến chợ A, phường P, thành phố H bán 08 con gà trên cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) lấy 500.000 đồng. Trên đường chạy về nhà, Q đã tháo biển số: 75H2-4950 của xe mô tô SUFAT vứt lại dọc đường. Số tiền 500.000 đồng, Q đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Ngày 10/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H tiến hành định giá xác định tài sản mà Lê Văn Q chiếm đoạt vào ngày 26/01/2024: Qua định giá xác định:

  • 01 (một) xe mô tô SUFAT, màu đỏ, số khung: PCH042PJ-011499, số máy: P53FMH-009499, biển số: 75H2-4950, đã qua sử dụng, có trị giá là 700.000 đồng;
  • 08 (tám) con gà trống, loại gà chọi, tổng trọng lượng 20 kg, có trị giá là 2.200.000 đồng, trong đó: 02 con gà trống, loại gà chọi, mỗi con có trọng lượng 03 kg; 02 con gà trống, loại gà kiến, mỗi con có trọng lượng 03kg và 04 con gà mái, loại gà kiến, mỗi con có trọng lượng 02kg (các tài sản không thu giữ được, định giá qua hồ sơ).

Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt: 2.900.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 23h00 ngày 04/03/2024, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUFAT (xe Q lấy trộm tại nhà anh D đêm 26/01/2024), mang theo bao tải rồi chạy đến thôn V, xã H, thành phố H. Tại đây, Q dừng xe ở đường nhựa rồi cầm bao tải đi bộ lên đồi cát phía sau nhà của người dân ngồi đợi. Đến khoảng

00h30 ngày 05/03/2024, Q đột nhập vào nhà của anh Đỗ Chánh S (sinh năm: 1989) bắt trộm 09 con gà bỏ vào bao tải. Sau đó, Q tiếp tục đột nhập vào nhà anh Đỗ Viết T5 (sinh năm: 1968) bắt trộm 01 con gà bỏ vào bao tải. Q điều khiển xe chở 10 con gà lấy trộm được đến chợ A, phường P, thành phố H để bán cho anh Dương Quang V (sinh năm: 1970, trú tại: F Đ, phường P, thành phố H). Tại đây, do có 03 con gà bị chết nên Q bán cho anh V 07 con gà sống lấy 1.300.000 đồng. Còn 03 con gà chết, Quốc bỏ lại vào bao tải rồi ném xuống sông A. Số tiền 1.300.000 đồng, Q dùng để tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 27/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H tiến hành định giá xác định 10 con gà trống, tổng trọng lượng là 28,4kg mà Lê Văn Q chiếm đoạt vào ngày 04/03/2024. Qua định giá xác định:

  • 02 (hai) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu tía đỏ, chân vàng, được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 2.5kg;
  • 01 (một) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu xám, được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 03kg (tài sản không thu giữ được, định giá qua hồ sơ);
  • 03 (ba) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu đen, được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 2.8kg (tài sản không thu giữ được, định giá qua hồ sơ);
  • 04 (bốn) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu tía vàng, được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 03kg (tài sản không thu giữ được, định giá qua hồ sơ);

Tổng giá trị tài sản Q chiếm đoạt: có trị giá là 3.124.000 đồng.

Vụ thứ 3: Khoảng 22h20 ngày 05/03/2024, Lê Văn Q mang theo bao tải rồi điều khiển xe mô tô SUFAT trên chạy trên các tuyến đường thuộc xã Q, huyện Q tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến thôn D, xã Q, huyện Q, phát hiện nhà ông Lê Công C không đóng cửa nên Q dừng xe rồi đột nhập vào trong nhà nhưng bị phát hiện nên bỏ chạy ra đường rồi lấy xe tẩu thoát. Khoảng 22h30 cùng ngày, Q tiếp tục quay lại rồi đột nhập vào nhà của anh Cao Hữu Đ (sinh năm: 1995) sát bên cạnh nhà ông C bắt trộm 02 con gà trống (loại gà đá) bỏ vào bao tải. Sau đó, Q chạy xe đến nhà của anh Nguyễn Văn Quốc T6 (sinh năm: 1997) đột nhập vào trong bắt trộm 07 con gà trống (loại gà đá). Q tiếp tục đi bộ khoảng 20m đến nhà của bà Hồ Thị Q1 (sinh năm: 1967) đột nhập vào trong bắt trộm 02 con gà trống (loại gà đá). Sau đó, Q điều khiển xe chở 11 con gà lấy trộm được đến chợ A, phường P, thành phố H bán cho anh Dương Quang V (sinh năm: 1970, trú tại: F Đ, phường P, thành phố H) lấy 2.300.000 đồng rồi về lại nhà, đưa toàn bộ số tiền trên cho Lê Thị Thanh T2 là vợ Q.

Ngày 27/03/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q tiến hành định giá xác định 11 con gà trống (loại gà đá) mà Lê Văn Q chiếm đoạt vào ngày 05/03/2024. Qua định giá xác định: 11 con gà có tổng trị giá 4.194.000 đồng.

Vụ thứ 4: Khoảng 22h00 ngày 23/05/2024. Lê Văn Q đi bộ trên các tuyến đường của thành phố H tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản.

Khi đến trước nhà chị Nguyễn Thị T7 (sinh năm: 1970 – Trú tại: B T, phường A, thành phố H) phát hiện xe mô tô HONDA LEAD, màu vàng - đen, biển số 75B1-093.98 để trong sân nên Q đột nhập vào, mở cốp xe lấy trộm 01 giấy đăng ký xe máy, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM của ngân hàng V1, 01 thẻ ngân hàng VINGROUP VinID của chị T7. Sau đó, Q nhìn thấy có phòng ngủ mở cửa sổ nên Q đến xem, phát hiện 01 điện thoại di dộng Iphone X, màu đen của anh Lê Thanh N (sinh năm: 1968) là chồng chị T7 để trên giường. Q nhặt đùi tre gần đó móc lấy điện thoại di động thì bị anh N phát hiện nên bỏ chạy. Đến rạng sáng 24/05/2024, Q đi bộ đến nhà chị Trần Thị Mỹ H1 (sinh năm: 1960, trú tại: 9 T, phường A, thành phố H) rồi đột nhập vào trong bằng cổng sau. Phát hiện xe mô tô SUZUKI, màu đỏ, biển số 75K1-1961, chìa khóa vẫn cắm trên xe và nhiều bao lúa để trong kho nên Q lén lút dắt xe ra ngoài đường. Sau đó, Q đi lại trong kho vác 03 bao lúa bỏ lên xe rồi chở đến nhà anh Nguyễn Đắc T8 (sinh năm: 1968, trú tại: 1 L, phường A, thành phô H) để bán. Nhưng do anh T8 chưa mở cổng nên Q để 03 bao lúa trước cổng rồi điều khiển xe mô tô trên tiếp tục đi trộm cắp tài sản.

Q tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển số 75KI-1961 đến trước số nhà H T, phường A, thành phố H, Q dừng xe ngoài đường rồi đột nhập vào phía sau vườn nhà. Sau đó, Q dùng cây kéo mang theo sẵn cắt dây buộc cánh cửa sổ phòng ngủ của ông Lê L (sinh năm: 1970, trú tại: 0 T, phường A, thành phố H) rồi Q luồn tay qua song cửa lấy trộm 01 điện thoại di dộng Samsung A34, màu đen để trên giường bỏ vào túi quần. Sau đó, Q tiếp tục điều khiển xe chạy đến TDP N, Khu V, phường A, thành phố H thấy nhà của anh Hồ Văn H2 (sinh năm: 1984, trú tại: F Sông N, phường X, thành phố H) đang trong quá trình xây dựng nên Q dừng xe rồi đi bộ vào trong. Phát hiện anh H2 đang ngủ trên nền nhà, bên cạnh có để 01 điện thoại di động Samsung S23 FE, màu ghi xám nên Q lấy trộm điện thoại trên. Tiếp đó, Q điều khiển xe mô tô đến Từ đường Phái nhất, họ Phạm Văn thuộc làng T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế lấy trộm 04 bao lúa của anh Phạm Văn N1 (sinh năm: 1982, trú tại: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) chở về nhà anh Nguyễn Đắc T8 để bán cùng với 03 bao lúa mà Q lấy trộm trước đó lấy 2.600.000 đồng.

Ngày 27/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H tiến hành định giá xác định tài sản mà Lê Văn Q chiếm đoạt vào ngày 23/05/2024. Qua định giá xác định:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI Smash, biển số 75K1-1961, màu đỏ, số khung: BE491-050207145, số máy: E432-VN207145, đã qua sử dụng, có trị giá là 3.500.000 đồng;
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung A34, màu đen, IMEI: 35268920577058, đã qua sử dụng, có trị giá là 2.500.000 đồng;
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung S23 FE, màu ghi xám, IMEI: 350389910752016, đã qua sử dụng, có trị giá là 4.500.000 đồng;
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu đen, loại 64GB, số IMEI: 356738086420234, đã qua sử dụng, có trị giá là 2.300.000 đồng;
  • 03 (ba) bao lúa mà Q lấy trộm của Trần Thị Mỹ H1 tại thành phố H có tổng trọng lượng 135 kg, có trị giá là 1.282.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Q chiếm đoạt trong đêm 23/5/2024 đến rạng sáng ngày 24/5/2024 tại thành phố H là: 14.082.500 đồng.

Ngày 27/03/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T tiến hành giám định tâm thần đối với Lê Văn Q. Tại Bản kết luận giám định tâm thần số: 725/KLGĐ ngày 04/05/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vục miền T kết luận như sau:

* Trước thời điểm gây án:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm gây án:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm hiện tại:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Ngày 11/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T tiến hành giám định tâm thần đối với Lê Văn Q. Tại Bản kết luận giám định tâm thần số: 1413/KLGĐ ngày 14/08/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T kết luận như sau:

* Trước thời điểm gây án:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm gây án:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm hiện tại:

  1. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Vật chứng thu giữ:

  • 04 (bốn) con gà trống, loại gà đá, màu xám, tổng trọng lượng 9,5kg;
  • 06 (sáu) con gà trống, loại gà đá, màu ô tía, tổng trọng lượng 16,2kg;
  • 01 (một) con gà trống, loại gà đá, màu ô đen, trọng lượng 2,3kg;
  • Số tiền 2.300.000 Việt Nam Đ, bao gồm: 04 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng;
  • 01 (một) căn cước công dân số: [...] mang tên Nguyễn Thị T7;
  • 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 004579 của xe mô tô biển số 75B1-093.98 mang tên Nguyễn Thị T7;
  • 01 (một) thẻ ngân hàng V1 số: 9704.1501.3300.1977 mang tên NGUYEN THI THOM, màu xanh;
  • 01 (một) thẻ mua hàng VINGROUP VinID khách hàng thân thiết, số: 8888.2007.7981.5235, màu đen;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI Smash, màu đỏ, biển số: 75K1-1961, số khung: BE491-050207145, số máy: E432-VN207145, đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe;
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung A34, màu đen, IMEI: 35268920577058, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung S23 FE, màu ghi xám, IMEI: 350389910752016, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) bao màu xanh đựng lúa, cân nặng 35kg;
  • 01 (một) bao màu xanh đựng lúa, cân nặng 49kg;
  • 01 (một) bao màu vàng đựng lúa, cân nặng 51kg;
  • 01 (một) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu tía đỏ, chân vàng được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 2.5kg;
  • 01 (một) con gà trống, loại gà chọi, có lông màu tía đỏ, chân vàng được cắt lông ở phần đầu, cổ, hai đùi và phần bụng, có trọng lượng 2.5kg:
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu đỏ, số khung: PCH042PJ-011499, số máy: P53FMH-009499, không gắn biển số, đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.

Các tài sản trên đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định số:

1761/QĐ-ĐTTH, 207/QĐ-ĐTTH và 2243/QĐ-ĐTTH của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H vào các ngày 30/5/2024, 27/6/2024 và 04/7/2024.

- Vật chứng thu giữ khác:

  • 01 (một) bao màu xanh đựng lúa, cân nặng 35kg;
  • 02 (hai) bao màu trắng đựng lúa, cân nặng 41kg;
  • 01 (một) bao màu trắng đựng lúa, cân nặng 42kg;
  • 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu cam dài 10cm;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (bên ngoài là vỏ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số 74H1-044.30, số khung: VTTWCH022TT095587, số máy: VTT1P52FMH095587;
  • 01 (một) đĩa CVD-R16X, 4.7GB, 120 min, nhãn hiệu RISHENG có chứa dữ liệu vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại xã P, thành phố H ngày 26/01/2024 đã được niêm phong;
  • 01 (một) đĩa DVD có chứa dữ liệu vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại xã Q, huyện Q ngày 05/3/2024 đã được niêm phong.

* Về dân sự:

Các bị hại bà Lê Thị T4, ông Phạm D, ông Đỗ Viết T5, ông Cao Hữu Đ, ông Nguyễn Văn Quốc T6, bà Hồ Thị Q1, ông Lê Thanh N, bà Nguyễn Thị T7, ông Trần Thị Mỹ H1, ông Lê L, ông Hồ Văn H2 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự. Ông Dương Quang V đã nhận lại số tiền 2.300.000 đồng là tiền mua 11 con gà vào ngày 06/03/2024. Đồng thời, ông V không có yêu cầu Lê Văn Q phải trả lại số tiền 1.300.000 đồng là tiền mua 07 con gà vào ngày 05/03/2024. Ngày 17/8/2024, ông Nguyễn Đắc T8 đã nhận lại đủ số tiền 2.600.000 đồng là tiền mua 07 bao lúa do Q bán nên không có yêu cầu gì thêm.

Đối với ông Dương Quang V và ông Nguyễn Đắc T8 là người mua gà và lúa do Lê Văn Q lấy trộm đem đến bán nhưng ông V và ông T8 không biết các tài sản trên là do Q lấy trộm nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đối với chị Lê Thị Thanh T2, vợ của Lê Văn Q là người được Q giao lại số tiền 2.300.000 đồng, là tiền bán 11 con gà mà Q lấy trộm vào ngày 05/03/2024 nhưng T2 không bàn bạc gì với Q về việc trộm cắp số gà trên cũng như không biết số tiền 2.300.000 đồng là do Q phạm tội mà có nên T2 không đồng phạm với Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự và không phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (bên ngoài là vỏ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số 74H1-044.30 là tài sản chung của Q và Lê Thị Thanh T2, khi Q lấy đi thực hiện hành vi phạm tội thì chị T2 không biết nên không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi của Lê Văn Q lấy trộm 04 bao lúa của anh Phạm Văn N1 tại Từ đường Phái nhất, họ Phạm Văn thuộc làng T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển hồ sơ, tài liệu và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đang thụ lý xác minh vụ việc nói trên.

Tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKS-P2 ngày 30/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Lê Văn Q từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 24/5/2024.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Các bị hại bà Lê Thị T4, ông Phạm D, ông Đỗ Viết T5, ông Cao Hữu Đ, ông Nguyễn Văn Quốc T6, bà Hồ Thị Q1, ông Lê Thanh N, bà Nguyễn Thị T7, ông Trần Thị Mỹ H1, ông Lê L, ông Hồ Văn H2 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự. Anh Dương Quang V đã nhận lại số tiền 2.300.000 đồng là tiền mua 11 con gà vào ngày 06/03/2024. Đồng thời, anh V không có yêu cầu Lê Văn Q phải trả lại số tiền 1.300.000 đồng là tiền mua 07 con gà vào ngày 05/03/2024. Ngày 17/8/2024, ông Lê Văn T1 (Cha của bị cáo) đã bồi thường cho anh Nguyễn Đắc T8 số tiền 2.600.000 đồng là tiền mua 07 bao lúa do Q bán và không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Buộc bị cáo Lê Văn Q phải bồi thường cho bị hại ông Đỗ Chánh S số tiền 2.574.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (Một) cái kéo bằng kim loại, dài 21 cm, tay cầm bằng nhựa màu cam dài 10cm, đã niêm phong, bị cáo làm công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
  • Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (Bên ngoài là võ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số: 74H-004.30, số khung: VTTWCH022TT095587, số máy: VTT1P52FMH095587, đã qua sử dụng. Bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi trộm cắp tài sản, nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

* Về án phí:

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Bị cáo là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khản khai báo, gia đình bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, tại phiên toà bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình xự để xử phạt bị cáo Lê Văn Q với mức hình phạt cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tôi của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi công khai tại phiên toà đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận:

Trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024, tại địa bàn thành phố H và huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Văn Q đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt tải sản là xe mô tô, gà chọi, gà kiến và lúa của các bị hại bà Lê Thị T4, ông Phạm D, ông Đỗ Chánh S1, ông Đỗ Viết T5, ông Cao Hữu Đ, ông Nguyễn Văn Quốc T6, bà Hồ Thị Q1, ông Lê Thanh N, bà Nguyễn Thị T7, bà Trần Thị Mỹ H1, ông Lê L, ông Hồ Văn H2. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị: 24.300.500 đồng. Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lê Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng bản chất lười lao động muốn hưởng thụ bằng sức lao động của người khác mới dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn Q có nhân thân xấu ngày 29/8/2017, có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng. Ngày 07/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 (S2) tháng tù về tội

“Trộm cắp tài sản”, mới ra tù chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội cố ý, nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Mặt khác, khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024, tại địa bàn thành phố H và huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt đoạt tài sản, mỗi lần chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng, nên bị cáo đã phạm tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại đểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bởi vậy, đối với Lê Văn Q cần xét xử nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, tại phiên toà bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt: Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Văn Q hình phạt cảo tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử thấy rằng, mặt dù bị cáo Lê Văn Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tuy nhiên, bị cáo Lê Văn Q đã phạm vào 02 tiết tăng nặng là “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, nên bị cáo Lê Văn Q không đủ điều kiện để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lời bào chữa mà người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Các bị hại bà Lê Thị T4, ông Phạm D, ông Đỗ Viết T5, ông Cao Hữu Đ, ông Nguyễn Văn Quốc T6, bà Hồ Thị Q1, ông Lê Thanh N, bà Nguyễn Thị T7, bà Trần Thị Mỹ H1, ông Lê L, ông Hồ Văn H2 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự. Ông Dương Quang V đã nhận lại số tiền 2.300.000 đồng là tiền mua 11 con gà vào ngày 06/03/2024. Đồng thời, ông V không có yêu cầu Lê Văn Q phải trả lại số tiền 1.300.000 đồng là tiền mua 07 con gà vào ngày 05/03/2024. Ngày 17/8/2024, ông Lê Văn T1 (Cha của bị cáo) đã bồi thường cho ông Nguyễn Đắc T8 số tiền 2.600.000 đồng. Nay không có ai yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Bị hại ông Đỗ Chánh S yêu cầu bị cáo Lê Văn Q trả lại số tiền 2.574.000 đồng là số tiền gà của ông đã bị Q lấy trộm. Xét yêu cầu của ông S là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận, buộc bị cáo Lê Văn Q phải bồi thường cho ông Đỗ Chánh S số tiền 2.574.000 (Hai triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21cm, tay cầm bằng nhựa

màu cam dài 10cm thu giữ của bị cáo Lê Văn Q, bị cáo sử dụng vào công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (bên ngoài là vỏ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số 74H1-044.30, số khung: VTTWCH022TT095587, số máy: VTT1P52FMH095587, xe mô tô này bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, tài sản này là tài sản chung của bị cáo và vợ của bị cáo là chị Lê Thị Thanh T2. Chị T2 không biết bị cáo Lê Văn Q sử dụng xe này vào việc tội phạm, nên chị T2 không có lỗi. Vì vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc mô tô nhãn hiệu MASESTY, biển số 74H1-044.30. Trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu MASESTY, biển số 74H1-044.30 cho chị Lê Thị Thanh T2.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Lê Văn Q 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tuyên xử:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (bên ngoài là vỏ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số 74H1-044.30, số khung: VTTWCH022TT095587, số máy: VTT1P52FMH095587. Trả lại cho chị Lê Thị Thanh T2 ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu MASESTY (bên ngoài là vỏ nhãn hiệu Wave), màu xanh, biển số 74H1-044.30, số khung: VTTWCH022TT095587, số máy: VTT1P52FMH095587.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu cam dài 10cm (thu giữ của bị cáo Lê Văn Q).

Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải bồi thường cho ông Đỗ Chánh S số tiền 2.574.000 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn)

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Quốc - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger