Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HS-ST

Ngày: 22-10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đ và ông Lê Xuân Th

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th- Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.

- Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/10/2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn L, sinh năm1982; HKTT: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Chỗ ở: Thôn T, xã T huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn H, sinh năm 1954 và bà Lò Thị Ó, sinh năm: 1954; Gia đình có 7 anh em, bị cáo là thứ tư; Vợ: Quàng Thị A, sinh năm 1984; Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012 ; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Ông Đỗ Thanh T1, sinh năm 1952. Vắng mặt

HKTT: Thôn T, xã T huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, tại đường D khu công nghiệp H thuộc thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang Lò Văn L sinh năm 1982 trú tại bản Nà La, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, hiện đang thuê trọ tại thôn T, xã T, huyện Y có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại cạp quần đùi phía trước L đang mặc 01 túi nilon màu trắng kích thước (11,5x7)cm bên trong có 04 gói giấy kẻ ô ly nhỏ kích thước (2x1)cm và 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (1,5x1)cm, bên trong các gói giấy nhỏ đều chứa chất cục bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ kích thước (11,5x7)cm bên trong có 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (1,5x1)cm bên trong chứa chất cục bột màu trắng. Tất cả được niêm phong ký hiệu M1.

Ngày 29/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn L tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra Lò Văn L khai: L sử dụng ma túy (Heroine) từ năm 2022. Do cần ma túy sử dụng nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, L đi bộ đến khu vực vòng xuyến thôn Đ, xã T, huyện Y gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ đang đứng ven đường, L đi đến và bảo “để cho em một ít” thì người này đồng ý và hỏi L mua bao nhiêu thì L nói “em mua 1.200.000 đồng” thì người đàn ông này bảo “đưa tiền đây”, L lấy số tiền 1.200.000 đồng từ túi quần ra đưa cho người đàn ông thì được người đàn ông đưa cho L 02 túi nilon đều có kích thước (11,5x7)cm, L cầm và kiểm tra thấy bên trong có nhiều gói nhỏ chứa ma túy Heroin. L đút 02 túi nilon này vào trong cạp quần đùi phía trước đang mặc rồi đi về phòng trọ để sử dụng, thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Ngày 29/6/2024, xét nghiệm sinh hóa Lò Văn L, kết quả dương tính với ma túy loại Heroin.

Tại bản kết luận giám định số 502/KL-KTHS(MT) ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng 0,231 gam (không phẩy hai ba một gam), là ma túy, loại Heroine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 502/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,223 gam ma túy, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1; 02 mảnh giấy và 04 mảnh giấy màu trắng kẻ ô ly gói ma túy; 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi; 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý.

Đối với người đàn ông, bị cáo L khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Quá trình điều tra, bị cáo Lò Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 118/CT-VKS-YM ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Lò Văn Lợi về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn L và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lò Văn L từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/6/2024;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng, án phí trong vụ án.

- Bị cáo Lò Văn L nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

    Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.

  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

    Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, tại đường D khu công nghiệp H thuộc thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Lò Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,231 gam ma túy, loại Heroin mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. [5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

    Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

  6. [6] Về vật chứng trong vụ án:

    01 phong bì niêm phong ghi số 502/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,223 gam ma túy, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1; 02 mảnh giấy và 04 mảnh giấy màu trắng kẻ ô ly gói ma túy; 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi; 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

  7. [7] Đối với người đàn ông, bị cáo L khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
  8. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.
  9. [9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 06 ( S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn L.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 502/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,223 gam ma túy, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1; 02 mảnh giấy và 04 mảnh giấy màu trắng kẻ ô ly gói ma túy; 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi; 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/10/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ và Công an huyện Y).

Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 118/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger